TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 310/2024/HS - ST Ngày: 12/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Túy Phượng;
- Ông Thái Văn Trung.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 348/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 372/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Tín Đ, sinh năm 1968, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh C (chết) và bà Mai Thị N, sinh năm 1941, vợ tên Lê Thị M, sinh năm 1977 và có 01 người con sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 14/8/1987 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (nay là thành phố T, tỉnh Bình Dương) xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản công dân theo Bản án số 42 ngày 14/8/1987.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/02/2024, đến này 04/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Tấn V, sinh năm 1978; trú tại: 2 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Khưu Hoàng L, sinh năm 1976; trú tại: Số S đường D ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Lê Thị M, sinh năm 1977; trú tại: A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Nam C1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 11/2023 Đ có làm quen ông Khưu Hoàng L là người mua bán bò và xin số điện thoại để khi cần thì liên hệ. Do bản thân Đ là người không có nghề nghiệp ổn định và không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định tìm tài sản của người khác sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài.
Vào khoảng 10 giờ ngày 16/12/2023, Đ điều khiển xe mô tô biển số 61C1-806.19 đi đến bãi đường A, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì thấy 02 con bò (01 con bò đực và 01 con bò cái) của ông Nguyễn Tấn V chăn thả ăn cỏ tại đây. Nhìn thấy 02 con bò không có người trông giữ nên Đ điều khiển xe lùa 02 con bò ra đường A đi tới bãi đất trống trên đường L thuộc phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi liên hệ ông Khưu Hoàng L để bán bò. Ông L đồng ý mua. Sau đó, Đ gửi vị trí cho ông L biết đến đưa bò về. Ông L đã liên hệ với ông Nguyễn Nam C1 là tài xế chạy xe tải kêu C1 đi chở bò cho ông L thì ông C1 đồng ý. Ông C1 đã điều khiển xe tải hiệu Kia biển số 51C-358.86 rồi cùng với ông L tới vị trí của Đ đã gửi để mua bò. Khi ông L và ông C1 tới nơi Đ nói với ông L, ông C1 là bò mới mua của người khác và bán lại nhưng Đ đang bận công việc đột xuất nên kêu ông L cứ mang bò về trước, Đ sẽ tới thương lượng giá sau thì ông L đồng ý và chở bò về nhà tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 26/12/2023, Đ tới nhà ông L thương lượng, thỏa thuận giá bán 02 con bò với giá 14.500.000 đồng và ông L đã trả số tiền này cho Đ.
Về phần ông V, sau khi phát hiện bị mất bò đã trình báo sự việc tới Công an phường A, thành phố T để xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình xác minh, truy xét đến ngày 07/01/2024, ông Khưu Hoàng L tự nguyện giao nộp 02 con bò gồm 01 con bò cái và 01 con bò đực lông màu vàng, tổng trọng lượng 430 kg cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và khai nhận việc mua bò từ Đức. Đồng thời, quá trình làm việc, Đ đã thừa nhận hành vi trộm cắp 02 con bò nêu trên nên tự nguyện giao nộp phương tiện, tư trang mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cho Cơ quan công an.
Tang vật thu giữ gồm:
- 01 con bò cái và 01 con bò đực lông màu vàng tổng trọng lượng 430kg.
- 01 xe mô tô biển số 61C1-806.19 hiệu Janus màu đỏ - đen; 01 áo sơ mi sọc màu trắng, xanh dài tay; 01 áo thun màu tím, 01 nón bảo hiểm đỏ- trắng, 01 nón lưỡi trai màu xám xanh, 01 đôi dép lào màu vàng, 01 điện thoại di động Nokia (đen -trắng).
Theo Biên bản phiên họp và Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 25/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 con bò cái và 01 con bò đực lông màu vàng tổng trọng lượng 430 kg trị giá 47.300.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 296/CT-VKS-TA ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trần Tín Đ về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.
01 con bò cái và 01 con bò đực lông màu vàng, quá trình điều tra xác định đây là tài sản ông Nguyễn Tấn V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho ông V và ông V không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét.
01 áo sơ mi sọc màu trắng, xanh dài tay; 01 áo thun màu tím, 01 nón bảo hiểm đỏ - trắng, 01 nón lưỡi trai màu xám xanh, 01 đôi dép lào màu vàng là tư trang bị cáo mặc, sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo không yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động N1 (đen - trắng) là phương tiện bị cáo sữ dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
01 xe mô tô biển số 61C1-806.19 hiệu Janus màu đỏ - đen, bị cáo sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với ông Khưu Hoàng L và ông Nguyễn Nam C1 quá trình điều tra, ông L và ông C1 không biết 02 con bò trên là do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Khưu Hoàng L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 14.500.000 đồng, bị cáo đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận,
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tín Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ trong vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 16/12/2023, tại khu vực bãi đất trống gần đường A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Tín Đ đã thực hiện hành vi chiếm đoạt 02 con bò gồm 01 con bò cái và 01 con bò đực lông màu vàng có tổng trọng lượng 430kg, trị giá 47.300.000 đồng của ông Nguyễn Tấn V đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi muốn có tài sản sử dụng không phải bằng sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định nêu trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị áp dụng mức hình phạt như trên đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 02 con bò, ông Nguyễn Tấn V đã nhận lại và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
- 01 áo sơ mi sọc màu trắng, xanh dài tay; 01 áo thun màu tím, 01 nón bảo hiểm đỏ - trắng, 01 nón lưỡi trai màu xám xanh, 01 đôi dép lào màu vàng là tư trang bị cáo mặc, sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động N1 (đen - trắng) là phương tiện bị cáo sữ dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 xe mô tô biển số 61C1-806.19 hiệu Janus màu đỏ-đen, bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với ông Khưu Hoàng L và ông Nguyễn Nam C1 quá trình điều tra, ông L và ông C1 không biết 02 con bò trên là do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là phù hợp pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 14.500.000 đồng cho ông Khưu Hoàng L nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 584, 585, 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
- Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Tín Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Trần Tín Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Tín Đ phải bồi thường cho ông Khưu Hoàng L số tiền 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
- Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động N1 (đen -trắng) và 01 xe mô tô biển số 61C1-806.19 nhãn hiệu Yamaha, số loại Janus-BJ71, dung tích xi lanh 125m³, số khung RLCSEC810HY046997, số máy E3X8E-046998.
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi sọc màu trắng, xanh dài tay; 01 áo thun màu tím, 01 nón bảo hiểm đỏ - trắng (hai vành trắng trên vành tai); 01 nón lưỡi trai màu xám xanh và 01 đôi dép lào màu vàng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 10/10/2024.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 725.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Khánh Linh |
Bản án số 310/2024/HS - ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 310/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Tín Đức - Trộm cắp tài sản
