Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 30-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Dương Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Kha

Bà Nguyễn Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Hồng Sơn, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Quang Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Anh V, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1979, tại T, Quảng Ninh. Nơi thường trú: phố N, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Hà Ngọc Q; vợ là Đỗ Thị Thanh T (đã ly hôn); có 02 con; tiền sự: không; tiền án: ngày 10/9/2015, bị Toà án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 08 năm tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2021. Nhân thân: ngày 27/7/2000, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Hà (nay là huyện H), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội: “Chống người thi hành công vụ”; ngày 03/8/2012, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, ngày 03/7/2014 chấp hành xong; bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024. Có mặt.

2. Hà Minh C, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1989, tại H, Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn M và bà Lê Thị M1; vợ, con: chưa; tiền sự: không; tiền án: ngày 14/10/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xử phạt 24

tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 10/3/2018 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 06/12/2016 thi hành xong phần án phí hình sự; ngày 17/8/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 03 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 22/9/2022 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 19/6/2020 thi hành xong phần án phí hình sự; bị bắt quả tang và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2024. Có mặt.

- Người làm chứng: Đỗ Đinh L; Lý Thị H; Nguyễn Hải N1; Đỗ Thị L1;

- Người chứng kiến: Hoàng Văn Đặng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 40 phút ngày 14/3/2024, tại khu vực trước cửa phòng trọ số 03 dãy nhà trọ A11 thuộc khu Q, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, Công an tỉnh Q phối hợp với Công an huyện H kiểm tra, phát hiện Hà Minh C cất giấu trái phép chất ma túy tại ô thông gió của phòng trọ số 4, mục đích để bán. Nguồn gốc số ma túy trên, Hà M2 Công khai mua của Phạm Anh V. Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi túi nilon buộc bằng dây chun màu đen bên trong có 01 (một) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon bên trong có 15 (mười lăm) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng (tổng 16 túi), kết quả giám định đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 3,152 gam.

Hồi 15 giờ 40 phút cùng ngày 14/3/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Anh V tại thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vật chứng thu giữ: trong túi vải bạt dưới sàn nhà phòng ngủ của V 01 (một) túi nilon bên trong có chất tinh thể màu trắng, kết quả giám định là ma túy loại Methamphetamnine, khối lượng 0,081 gam.

(Kết luận giám định số 372/KL-KTHS ngày 20/3/2024 và số 383/KL-KTHS ngày 21/3/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q).

Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:

Tháng 3/2024, Phạm A Việt 02 (hai) lần mua của người đàn ông tên N2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) tổng cộng 8.500.000 đồng ma túy đá tại khu vực gần trạm dừng nghỉ Minh A1, thuộc huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi mua được ma túy, V mang về sử dụng và chia nhỏ để bán cho nhiều người không rõ lai lịch, địa chỉ. Trong đó, V đã 03 (ba) lần bán cho Hà Minh C vào các ngày 07/3/2024, 09/3/2024 và 12/3/2024 tại nhà của V tổng cộng 03 (ba) túi ma túy đá được 6.700.000 đồng. Số ma tuý còn lại (0,081 gam Methamphetamine), V cất giấu tại nơi ở chưa kịp bán, thì bị Cơ quan điều tra kiểm tra, phát hiện, thu giữ.

Sau khi mua được số ma tuý trên của V, C mang về sử dụng và chia nhỏ để bán cho nhiều người không rõ lai lịch địa chỉ để kiếm lời. Trong đó, C đã 02

(hai) lần bán cho Đỗ Đinh L (sinh năm 1979) vào các ngày 10/3/2024 và 13/3/2024, mỗi lần 01 (một) túi ma túy “đá” với giá 500.000 đồng tại nhà của L ở phố M, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Số ma tuý còn lại (3,152 gam Methamphetamine), C cất giấu tại nơi ở mục đích để bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán, thì bị Cơ quan điều tra kiểm tra, phát hiện, thu giữ.

Số ma tuý “đá”, Phạm Việt A2 bán cho Hà Minh CC bán cho Đỗ Đinh L không thu giữ được, nên không xác định được loại và khối lượng ma tuý.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Anh V, H Công khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án.

- Người làm chứng:

  1. Anh Đỗ Đinh L có lời khai thể hiện anh đã nhiều lần mua ma túy của Hà Minh C nhưng chỉ nhớ 02 (hai) lần gần nhất là buổi trưa ngày 10/3/2024 và khoảng 17 giờ ngày 13/3/2024 đều mua với số tiền 500.000 đồng được giao trước cửa nhà anh. Số ma túy mua của Công đựng trong túi nilon trong suốt, anh đều đã sử dụng hết cho bản thân.
  2. Chị Lý Thị H có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo Hà Minh C về thời gian, địa điểm và số ma túy mà C cất giấu để bán như nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang. Chị H khẳng định trước ngày 14/3/2024 Hà Minh C chỉ thỉnh thoảng đến phòng chị chơi, chị không biết C có ma túy bán.
  3. Anh Nguyễn Hải N1 là người cho chị Lý Thị H thuê trọ, anh không cho Hà Minh C thuê trọ, việc chị H cho C ở cùng thì anh không được biết; chị Đỗ Thị L1 là người cho Hà Minh C thuê trọ nhưng đã trả phòng vào sáng ngày 14/3/2024. Quá trình C sinh sống ở tại phòng trọ không có biểu hiện gì bất thường.

- Người chứng kiến: ông Hoàng Văn Đ có lời khai thể hiện được mời chứng kiến quá trình kiểm tra, bắt quả tang ngày 14/3/2024 đối với Hà Minh C phù hợp với lời khai của bị cáo C và biên bản bắt người phạm tội quả tang về thời gian, địa điểm, vật chứng.

Tại Cáo trạng số 3948/CT-VKSMC, ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Phạm Anh V, Hà Minh C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 41 và 239 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phân công Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đối với vụ án nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với các bị cáo; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Phạm Anh V từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15/3/2024.

- Áp dụng: điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Hà Minh C từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/3/2024.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

+ Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ chất ma túy và vỏ mẫu vật hoàn lại sau giám định (trong 02 phong bì mẫu vật hoàn lại sau giám định số 372, 383/KL-KTHS); 02 thẻ sim lắp trong 02 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone và V1;

+ Tịch thu sung vào NSNN: 02 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone và Vivo thu của các bị cáo; Buộc bị cáo V nộp vào NSNN số tiền 6.100.000 đồng; Buộc bị cáo C nộp vào NSNN số tiền 1.000.000đ.

+ Trả lại: bị cáo C 01 CCCD tên Hà Minh C; bị cáo V 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vsmart lắp 01 thẻ sim.

Các bị cáo đều không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát mà thừa nhận hành vi phạm tội.

Lời nói sau cùng: các bị cáo Phạm Anh V, Hà Minh C đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; đồng thời tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội: lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như phù hợp sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản kiểm tra điện thoại, trên cơ sở kết luận giám định của phòng K Công an tỉnh Q và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian từ ngày 07/3/2024 đến ngày 14/3/2024, tại xã Q và thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, các bị cáo có hành vi phạm tội như sau:

- Bị cáo Phạm Anh V đã nhiều lần bán trái phép cho nhiều người và 03 (ba) lần bán cho Hà Minh C ma tuý “đá”; tàng trữ trái phép 0,081 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời, thì bị Công an tỉnh Q phát hiện thu giữ;

- Bị cáo Hà Minh C đã nhiều lần bán trái phép cho nhiều người và 02 (hai) lần bán cho Đỗ Đinh L ma tuý “đá”; tàng trữ trái phép 3,152 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời, thì bị Công an tỉnh Q phát hiện thu giữ.

Bị cáo Phạm Anh V đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý; còn bị cáo Hà Minh C đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Do đó, hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Anh VHà Minh C đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, các chứng cứ buộc tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng nên quan điểm truy tố Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà là có căn cứ pháp lý.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:……

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

q) Tái phạm nguy hiểm.”...

[3]. Xét tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng do không chịu tu dưỡng bản thân, thiếu ý thức chấp hành pháp luật các bị cáo đã thực hiện hành vi pháp luật không cho phép, các bị cáo VC vì vụ lợi cá nhân đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, vì vậy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

[4]. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: mặc dù vụ án có 02 (hai) bị cáo nhưng các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập với nhau, bị cáo Phạm Anh V là người mua ma túy từ địa phương khác mang về nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho Hà Minh C. Bị cáo C vì vụ lợi đã nhiều lần mua ma túy của V rồi vừa sử dụng, vừa bán lại cho đối tượng khác kiếm lời. Nên mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do mỗi bị cáo gây ra.

[5]. Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hà Minh C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Phạm Anh V còn quanh co nhưng quá trình xét xử đã làm rõ hành vi phạm tội đồng thời bị cáo đã thừa nhận khai báo phù hợp nội dung tại bản tự khai và lời khai trong quá trình điều tra nên các bị cáo CV được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Ngoài ra, bị cáo V còn có nhân thân xấu, ngày 27/7/2000, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Hà (nay là huyện H), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội: “Chống người thi hành công vụ” và ngày 03/8/2012, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng.

- Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy họ là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập không thường xuyên, nên, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của

hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết ấn định mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo trong khung đã truy tố và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo thành công dân có ích cho xã hội và gia đình.

[7]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Sau khi giám định, phòng K Công an tỉnh Q hoàn lại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q 02 (hai) phong bì niêm phong chứa ma túy thu giữ của bị cáo Phạm Anh V, Hà Minh C hoàn lại sau giám định tổng số 2,39g ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu trong niêm phong số 372/KL-KTHS và niêm phong số 383/KL-KTHS theo đúng quy định của pháp luật đây, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành do đó cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO tạm giữ của Hà Minh C và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone tạm giữ của Phạm A2 Việt đều đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; 02 (hai) sim điện thoại kèm theo máy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VSMART kèm theo 01 (một) sim đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong tạm giữ của Phạm Anh V và 01 (một) căn cước công dân mang tên Hà Minh C tạm giữ của Hà Minh C không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.

- Bị cáo V đã 03 (ba) lần bán trái phép chất ma túy thu số tiền 6.100.000 đồng, bị cáo C đã 02 (hai) lần bán trái phép chất ma túy thu số tiền 1.000.000 đồng, do đó cần truy thu của mỗi bị cáo số tiền này để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[8]. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo Phạm Anh V, Hà Minh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về án phí.

[9]. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[10]. Liên quan trong vụ án, Đỗ Đinh L đã thừa nhận hai lần mua ma túy của Hà Minh C và sử dụng hết, kết quả giám định nước tiểu của L tìm thấy chất ma túy Methamphetamine. Do đó, Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Ngoài ra, quá trình điều tra xác định chị Lý Thị H ở cùng Hà Minh C nhưng chị H không biết việc C cất giấu ma túy để bán cũng như không tham gia việc mua bán ma túy cùng C nên không xem xét xử lý.

Đối tượng tên N2 ở T theo Phạm Anh V khai là người bán ma túy cho V, nhưng không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ được, nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Anh V 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/3/2024.
  2. Căn cứ vào điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Minh C 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/3/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    1. Tịch thu tiêu hủy:
      • + 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì có chữ: Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 372 ngày 20 tháng 3 năm 2024 vụ Phạm Anh V của Đội Giám định - Phòng K số 372/KL-KTHS;
      • + 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì có chữ: Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 383 ngày 21 tháng 3 năm 2024 vụ Hà Minh C của Đội Giám định - Phòng K số 383/KL-KTHS;
      • + 01 (một) sim có số thuê bao là 0961.702.258 lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu VIVO; 01 (một) sim có số thuê bao là 0358588789 lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone;
    2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO vỏ màu xanh, số IMEI1 861128059714433, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu tím, số IMEI1 353442115430636, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy;
    3. Trả lại cho Hà Minh C 01 (một) căn cước công dân mang tên Hà Minh C; trả lại cho Phạm Anh V 01 (một) điện thoại Vsmart vỏ màu đen, 01 (một) sim có số thuê bao là 0795.359.741, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy.

      (Tình trạng vật chứng trên theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, số 38/CCTHADS, ngày 19/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh).

    4. Truy thu số tiền 6.100.000 đồng (sáu triệu một trăm nghìn đồng) của Phạm Anh V và số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) của Hà Minh C nộp vào ngân sách Nhà nước.
  4. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm:

    Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Phạm Anh VHà Minh C, mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Hải Hà;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Hải Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Dương Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Anh Việt và Hà Minh Công, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger