TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Gái
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Khang và bà Nguyễn Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 36/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2 024/QÐST-HNGĐ ngày 12/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Vũ Thị L, sinh năm: 1984.
- Nơi cư trú: tổ C, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Buôn bán; có mặt tại phiên tòa.
- - Bị đơn: anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 1982.
- Nơi cư trú: tổ C, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân (vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ghi ngày 20/12/2023, Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị L đều trình bày: Tôi với anh Nguyễn Văn C kết hôn hợp pháp vào năm 2002 tại Ủy ban nhân dân (viết tắt: UBND) xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn chúng tôi có thời gian tìm hiểu nhau 06 tháng.
Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống cùng gia đình chồng tại xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, đến năm 2006 vợ chồng thuê nhà ở trọ tại thành phố C cho đến năm 2008 vợ chồng chuyển đến địa chỉ tổ C, khu T, phường C, T sinh sống cho đến nay, quá trình chung sống vợ chồng sống bình thường đến năm 2013 thì mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân là vợ chồng không hợp nhau; về phía anh C có phần mải chơi, nhiều lần tụ tập bạn bè uống rượu, anh chưa thực sự chăm lo cho gia đình, con cái, nhiều lần anh uống rượu về gây sự chửi bới mẹ con tôi; tôi cũng đã trao đổi để anh rút kinh nghiệm thay đổi, cách đây 5-6 năm do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng tôi đã ra ngoài thuê nhà trọ ở nhưng suy nghĩ vì con, anh C cũng đến đón tôi về, nhưng khi tôi trở về chung sống thì mâu thuân vợ chồng vẫn tiếp diễn, tôi và anh C hiện sống chung một nhà nhưng vợ chồng đã sống ly thân đến nay hơn một năm, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng tôi đã quá căng thẳng trầm trọng không thể hàn gắn được nữa nên tôi yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Vợ chồng tôi có 03 con chung: Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 07/3/2013; khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Thị Hồng N, tôi không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con; các con chung Nguyễn Thị L1, sinh ngày 17/02/2003; Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/8/2005 đều đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không yêu cầu Tòa án đề cập.
- Về tài sản chung: tôi sẽ tự thỏa thuận cùng anh C, không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết. Về công nợ chung: không có nên không đề cập.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C đều vắng mặt, tại địa phương nơi cư trú anh Nguyễn Văn C từ chối tiếp xúc, làm việc với cán bộ Tòa án, anh C không thể hiện ý kiến để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Tòa án không có căn cứ để xem xét cho quyền lợi của anh Nguyễn Văn C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Vũ Thị L đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Anh Nguyễn Văn C đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt, không thực hiện đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị L, căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; tuyên xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị L đối với anh Nguyễn Văn C; Giao cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 07/3/2013 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), anh C không phải cấp dưỡng cho con chung; còn 02 con chung là Nguyễn Thị L1, sinh ngày 17/02/2003 và Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/8/2005 đều đã thành niên, khỏe mạnh, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không đề cập.
Về tài sản chung: chị Vũ Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: chị Vũ Thị L xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Vũ Thị L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn C hiện cư trú tại địa bàn thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Văn C là hôn nhân hợp pháp, hai anh chị kết hôn hợp pháp vào năm 2002 tại UBND xã Đ, tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu nhau 06 tháng.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị L chung sống cùng gia đình bên chồng tại xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Giang, đến năm 2006 vợ chồng anh chị đến thành phố C thuê nhà trọ chung sống, năm 2008 vợ chồng đến địa chỉ tổ C, khu T, phường C, thành phố C sinh sống cho đến nay; quá trình chung sống vợ chồng anh chị L Chuyên sống hòa thuận đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị L cho rằng anh C mải chơi, đàn đúm bạn bè uống rượu, ít quan tâm đến gia đình, vợ con; anh C còn uống rượu về gây sự chửi bới vợ con, từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, đến nay vợ chồng chị đã sống ly thân hơn một năm; nay chị Vũ Thị L có yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn C; xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị Loan C1 đã quá căng thẳng, trầm trọng; quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh C1 nhưng anh C1 đều vắng mặt, tại địa phương nơi anh chị cư trú anh C1 không tiếp xúc, không làm việc với cán bộ Tòa án nên không có căn cứ để bảo vệ cho quyền lợi của anh Nguyễn Văn C; vậy nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị L đối với anh Nguyễn Văn C là có căn cứ, phù hợp theo theo quy định tại các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Văn C có 03 con chung là Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 07/3/2013; khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Thị Hồng N, tại phiên tòa chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con và cam kết nuôi dạy con chung tốt; xét thấy yêu cầu nuôi con của chị L là phù hợp với nguyện vọng của con chung Nguyễn Thị Hồng N nên chấp nhận. Các con chung Nguyễn Thị L1, sinh ngày 17/02/2003 và Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/8/2005 đều đã thành niên, khỏe mạnh, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không đề cập.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị L; chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 07/3/2013 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở (hai con chung Nguyễn Thị L1, sinh ngày 17/02/2003 và Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/8/2005 đều đã thành niên, khỏe mạnh, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không đề cập).
Về tài sản chung: chị Vũ Thị L có quan điểm vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết; về nợ chung: chị Vũ Thị L xác định không có nợ chung nên không đề cập tại Tòa án.
Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002212 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Án xử công khai sơ thẩm chị Vũ Thị L có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn anh Nguyễn Văn C vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Gái |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
