Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ – ST.

Ngày: 29-7-2024.

V/v: Tranh chấp ly hôn và

tranh chấp về nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thúy Kiên.

2. Bà Thái Ánh Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Minh Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N - sinh năm 1988.
  2. Địa chỉ: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T - sinh năm 1985.
  4. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

(Các đương sự yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 02/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Minh T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào ngày 09/7/2013. Thời gian đầu chung sống gia đình cũng đầm ấm, hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, vì vậy thường xảy ra cãi vã, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng không hàn gắn lại được nên bà và ông T đã chính thức sống ly thân gần 7 năm nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng vẫn không có giải pháp xóa bỏ mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông T để trả tự do cho nhau mỗi người ổn định cuộc sống mới.

Về con chung: Bà N và ông T chung sống có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Minh P – sinh ngày 05/3/2014 và Nguyễn Như Q – sinh ngày 21/12/2015. Khi ly hôn bà N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung cho đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu.

Về nợ chung: Không có.

Đồng thời, do bận việc đi làm và điều kiện đường sá ở xa nên bà N yêu cầu được vắng mặt tại các phiên tòa xét xử về sau của Tòa án. Bà cam kết vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ đối với bà, bà không bổ sung gì thêm và cam kết không khiếu nại gì về sau.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/6/2024 bị đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà N tự nguyện tiến đến hôn nhân vào khoảng năm 2012, hôn nhân có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào ngày 09/7/2013. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau, xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cải dẫn đến hôn nhân không còn hạnh phúc nên vợ chồng đã chính thức sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, hiện tại mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm lẫn nhau. Do hiện nay ông vẫn còn thương vợ con nên qua yêu cầu xin ly hôn của bà N thì ông không đồng ý ly hôn với bà N và mong muốn bà N quay về chung sống cùng ông chăm lo cho hai con nhỏ.

Về con chung: Ông T thống nhất với ý kiến của bà N trình bày là vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Minh P – sinh ngày 05/3/2014 và Nguyễn Như Q – sinh ngày 21/12/2015, hiện nay cháu P sống với ông, còn cháu Q thì sống với bà N. Khi ly hôn ông yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu P cho đến tuổi trưởng thành, ông đồng ý giao cháu Q cho bà N được quyền nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành, ông và bà N không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Ngoài ra, do bận việc đi làm nên việc đi lại Tòa án gặp nhiều khó khăn. Do đó ông T yêu cầu được vắng mặt tại các phiên hòa giải, đối chất và xét xử về sau của Tòa án. Ông cam kết vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ đối với ông, ông không bổ sung gì thêm và cam kết không khiếu nại gì về sau.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Minh T có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký và việc chấp hành pháp luật của đương sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau:

  • Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.
  • Về con chung:N và ông T có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Minh P – sinh ngày 05/3/2014 và Nguyễn Như Q – sinh ngày 21/12/2015. Giao cháu P và cháu Q cho bà N được quyền nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), ông T không phải cấp dưỡng nuôi con cho bà N.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
  • Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà N phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Xét tại phiên tòa, nguyên đơn bà N và bị đơn ông T đều có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bà N và ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.
  2. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp:N yêu cầu được ly hôn với ông T và yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung cho đến tuổi trưởng thành, nhưng ông T không đồng ý. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Bị đơn ông Nguyễn Minh T có địa chỉ thường trú và sinh sống tại khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Do đó, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  4. Về nội dung vụ án:
    • [3.1] Về quan hệ hôn nhân:N và ông T chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện từ năm 2013 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và bà N có đơn xin ly hôn nên Tòa án thụ lý xem xét, giải quyết theo thủ tục chung.
    • Xét yêu cầu xin ly hôn của bà N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà N cho rằng trong quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng nên thường xảy ra cự cãi nhau và ông bà cũng đã chính thức sống ly thân gần 7 năm nay. Từ khi ly thân đến nay ông bà cũng không có giải pháp xóa bỏ mâu thuẫn để hàn gắn được tình cảm vợ chồng nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T. Về phía ông T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra cãi vã nên hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ và từ năm 2018 ông và bà N đã ly thân cho đến nay. Do hiện nay ông vẫn còn tình cảm với bà N nên không đồng ý ly hôn với bà N.

      Xét, việc ông T không đồng ý ly hôn vì ông cho rằng còn tình cảm với bà N nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra bất hòa và sống ly thân nhau đã lâu, mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm lẫn nhau và từ khi sống ly thân cho đến nay ông cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với bà N, đồng thời quá trình giải quyết vụ án ông cũng có đơn yêu cầu không hòa giải với bà N, cho thấy ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà N, việc ông cho rằng còn tình cảm với bà N chỉ là lời nói suông. Từ đó có thể khẳng định, mâu thuẫn giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được, nếu tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân cũng không đạt được hạnh phúc. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

    • [3.2] Về con chung:N và ông T chung sống có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Minh P – sinh ngày 05/3/2014 và Nguyễn Như Q – sinh ngày 21/12/2015. Khi ly hôn bà N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung cho đến tuổi trưởng thành, nhưng về phía ông T không đồng ý, ông T đồng ý giao cháu Q cho bà N nuôi dưỡng và ông yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu P cho đến tuổi trưởng thành. Xét yêu cầu nuôi dưỡng con chung của bà N, ông T Hội đồng xét xử nhận thấy. Từ khi ly thân cho đến nay cháu Q do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, còn cháu P thì do ông T nuôi dưỡng. Quá trình Tòa án thu thập chứng cứ có tiến hành thu thập ý kiến của cháu P và cháu Q thì các cháu đều có ý kiến nếu cha mẹ ly hôn thì các cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Riêng đối với cháu P còn có ý kiến cho rằng ông T thường xuyên uống rượu mỗi ngày và có nhiều hôm còn uống từ sáng cho đến tối, mỗi lần uống rượu say ông T thường xuyên la rầy và đánh đòn cháu P vô cớ. Vì vậy, để ổn định tâm lý và theo nguyện vọng của con Hội đồng xét xử thiết nghĩ nên giao hai con chung cho bà N nuôi dưỡng và dành cho ông T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở, và ông bà có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con là đúng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83,84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

      Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Xét việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Bà N cho rằng bà có khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con, Tòa án đã giải thích bà N biết việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con nhưng bà N vẫn không yêu cầu cấp dưỡng. Xét việc bà N không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không buộc ông T phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

    • [3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
    • [4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà N phải chịu theo quy định pháp luật.
    • [5] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.
  2. Về con chung:N và ông T có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Minh P – sinh ngày 05/3/2014 và Nguyễn Như Q – sinh ngày 21/12/2015. Giao hai con chung Nguyễn Minh PNguyễn Như Q cho bà N được quyền nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), ông T không phải cấp dưỡng nuôi con cho bà N.
  3. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T không ai được quyền cản trở.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:Nguyễn Thị N phải nộp số tiền 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005356 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (công nhận bà N đã nộp xong án phí).
  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  2. Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Cần Thơ;
  • - VKSND Q. Thốt Nốt;
  • - Chi Cục THA DS Q. Thốt Nốt;
  • - Các Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ – ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger