|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28/6/2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi
- Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Luyện, bà Lê Thị Sử.
- -Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXX-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982. Có mặt.
- Địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
- - Bị đơn: Anh Lê Đăng N, sinh năm 1978. Vắng mặt.
- Địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị T kết hôn anh Lê Đăng N vào ngày 21/10/2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T sống hạnh phúc bên nhau được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng chị T là do tính cách 02 (hai) người không hợp nhau, cuộc sống chung vợ chồng rất nặng nề, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Đăng N có 01 người con chung là Lê Nhật H, sinh ngày 08/12/2020. Khi vợ chồng sống ly thân con chung sống cùng với chị T, nay ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Đăng N vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An thấy rằng: Anh Lê Đăng N, sinh năm 1978 có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại Xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; anh Lê Đăng N có vợ là chị Nguyễn Thị T và có 01 người con chung là Lê Nhật H, sinh ngày 08/12/2020. Anh Lê Đăng N làm nghề nghiệp lao động tự do nên thường đi làm việc nhiều nơi trong huyện Đ nên những lần Tòa án xuống làm việc và tống đạt giấy tờ đều không gặp được anh N để làm việc.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án.
Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Lê Đăng N cư trú tại Xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt của bị đơn Lê Đăng N.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Lê Đăng N vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ. Vì vậy, việc giải quyết vụ án, xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Xét đề nghị của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T về việc ly hôn và nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Đăng N kết hôn với nhau ngày 21/11/2019 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hợp lệ theo quy định của pháp luật, cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc bên nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do tính cách hai người không hợp nhau, cuộc sống vợ chồng rất nặng nề, thường xuyên xẩy ra cãi vã không tôn trọng nhau, chị T và anh N đã sống ly thân từ tháng 08 năm 2023 đến nay và từ đó mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình, giữa chị T và anh N không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh N.
Xét tình cảm giữa chị Nguyễn Thị T và anh Lê Đăng N thực sự không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Đăng N có 01 con chúng là Lê Nhật H, sinh ngày 12/8/2020. Xét đề nghị của chị T về việc được trực tiếp nuôi dưỡng con chung thấy rằng: Khi chị T và anh N sống ly thân cháu H sống cùng với chị T. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của chị T giao con chung Lê Nhật H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh N.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Đăng N được ly hôn.
Về con chung: Giao con chung Lê Nhật H, sinh ngày 12/8/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu H trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Đăng N.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.
Án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khẩu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp (Chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo BL số 0009343 ngày 05/01/2024 tại Chi cục THANDS huyện Đ).
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toàn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Duy Phi |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Lê Đăng N
