Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS – PT

Ngày: 28 – 5 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Hòa.

Các thẩm phán: Ông Cao Việt Hoàng.

Bà Nguyễn Thị Minh Thu.

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Văn Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Ông Phùng Đức Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLPT – HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Thành L và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Đỗ Thành L, Bùi Trọng H, Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn K và Nguyễn Tài S đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2024/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo:

  1. Đỗ Thành L, sinh năm 1988; nơi thường trú: khu H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966; vợ là Nguyễn Thị Y, sinh năm 1988; có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2015; tiền sự: không; tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 418/2022/HSPT ngày 17/6/2022 của Toà án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội xử phạt Đỗ Thành L 15 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, 39 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt là 54 tháng tù; Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 23/8/2022; có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

  2. Bùi Trọng H, sinh năm 1983; nơi thường trú: khu H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hùng T, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1958; vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/4/2023 đến ngày 06/5/2023; hiện tại ngoại; có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

  3. Đỗ Vĩnh L1, sinh năm 1992; nơi thường trú: Khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; chỗ ở: Số E Chợ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Vĩnh L2 (đã chết) và bà Lương Thị H2, sinh năm 1971; vợ là Phạm Thị Thu T2, sinh năm 1992; có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 29/4/2023 đến ngày 06/5/2023; hiện tại ngoại; có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

  4. Đỗ Văn K, sinh năm 1976; nơi thường trú: khu H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Mạnh K1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1956; vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm 1986; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2023 đến ngày 30/8/2023; hiện tại ngoại; có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

  5. Nguyễn Tài S, sinh năm 1984; nơi thường trú: khu X, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tài C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1960; vợ là Nguyễn Thị T4, sinh năm 1985; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2023 đến ngày 27/7/2023; hiện tại ngoại; có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

* Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1983 – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

  2. Cán bộ Trại tạm giam – Công an tỉnh B.

Trong vụ án này còn có các bị cáo Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Hữu H3 có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với H3 và T5; các bị cáo Nguyễn Thế L3, Nguyễn Năng T6, Nguyễn Thì D, Nguyễn Năng V1, Nguyễn Văn N và Nguyễn Tiến D1 do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 4 giờ 20 phút, ngày 29/4/2023, Đ1 Công an thành phố B tiến hành kiểm tra điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng, bên trong lắp sim số 0878.501.888 của Bùi Trọng H phát hiện H đang đăng nhập tài khoản cá độ bóng đá F22222555009 trên trang cá độ 3in1bet.com. H khai tài khoản cá độ bóng đá trên do Nguyễn Thanh T5 cấp để tham gia cá độ bóng đá qua mạng.

Căn cứ lời khai của H, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh T5. Tại đây, căn cứ lời khai của Nguyễn Thanh T5, cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành đăng nhập tài khoản bóng đá Master F22222, mật khẩu Qqqq1111@ trên máy tính có kết nối mạng Internet. Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ: 01 USB chứa dữ liệu tài khoản Master F22222 được niêm phong theo quy định; 114.350.000 đồng (gồm 22 tờ 500.000đ; 11 tờ 100.000đ; 45 tờ 50.000đ; 2 tập tiền, mỗi tập 100 tờ 500.000₫); 03 thiết bị wifi; 01 điện thoại di động Iphone có vỏ màu xanh số imei 359328807723483.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T5 trình bày lấy tài khoản cá độ bóng đá và tài khoản M từ Đỗ Thành L, thời điểm này đang là phạm nhân tự giác chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

Ngày 29/4/2023, ngày 02/5/2023 các đối tượng liên quan đến tài khoản cá độ bóng đá F22222 gồm: Nguyễn Thì D, Nguyễn Thế L3, Nguyễn Năng T6, Nguyễn Năng V1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Tiến D1, Nguyễn Hữu H3, Đỗ Vĩnh L1, Nguyễn Tài S đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đầu thú và khai nhận về hành vi đánh bạc cụ thể như sau:

- Tài khoản Member F22222555001, F22222555009, F22222555002

Quá trình chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an T, vào tháng 2/2023, Đỗ Thành L nhận tài khoản cá độ bóng đá Member F22222555001 và F22222555009 với mức giá 50.000 đồng/1 điểm từ một người thanh niên tên là Q, sinh năm khoảng từ 1984-1986 ở thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó L giao 02 tài khoản này cho Nguyễn Thanh T5 với giá 50.000 đồng/1 điểm, L thỏa thuận với Q sẽ ăn 2 giá, tức là nếu tài khoản của T5 cá cược thắng hoặc thua 1000 điểm, thì L sẽ phải trả hoặc được số tiền 2.000.000 đồng. Để tiện theo dõi, L được Q cấp cho 01 tài khoản Master F22222, mật khẩu Q để theo dõi quản lý các tài khoản Member. Sau đó L tiếp tục lấy tài khoản Member F22222555002 từ Q và cấp lại cho Đỗ Văn K và thỏa thuận 15.000 đồng/1 điểm để Khương cá độ bóng đá.

Sau khi có 02 tài khoản Member F22222555001 và F22222555009 từ L cung cấp, T5 tiếp tục giao lại cho Bùi Trọng H với giá 50.000 đồng/1 điểm để H cá độ bóng đá.

- Tài khoản Member F22222ttt001, F22222ttt006 và F22222ttt012

Khoảng tháng 4/2023, Nguyễn Thế L3 lấy 03 tài khoản cá độ bóng đá Member F22222ttt001, F22222ttt006 và F22222ttt012 từ một thanh niên theo L3 khai là Nguyễn Duy H4, sinh năm 1992 ở thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó Thế L3 giao 2 tài khoản F22222ttt001 và F22222ttt006 cho Đỗ Vĩnh L1 với 30.000 đồng/1 điểm để Vĩnh Long cá độ bóng đá. Đối với tài khoản F22222ttt012, Thế L3 giao lại cho Nguyễn Năng T6, sau đó T6 giao tài khoản này cho Nguyễn Tài S để S cá độ bóng đá.

- Tài khoản Member F22222009001 và F22222009002

Khoảng tháng 4/2023, Nguyễn Hữu H3 lấy 02 tài khoản cá độ bóng đá Member F22222009001 và F22222009002 từ một người theo H3 khai là Nguyễn Xuân T7 (hay còn gọi là Thành ngọt), sinh năm 1986, HKTT: thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, H3 sử dụng tài khoản F22222009001 để cá độ bóng đá, còn giao tài khoản F22222009002 cho Nguyễn Tiến D1 để D1 cá độ bóng đá.

- Tài khoản Member F22222999011 và F22222999666

Khoảng tháng 4/2023, Nguyễn Thì D lấy 02 tài khoản cá độ bóng đá Member F22222999011 và F22222999666 từ một người tên Q theo D khai tên là Nguyễn Hữu Q1, sinh năm 1985, HKTT: thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó D giao tài khoản F22222999011 cho Nguyễn Văn N để N cá độ bóng đá và giao tài khoản F22222999666 cho Nguyễn Năng V1 để V1 cá độ bóng đá.

Sau khi cấp tài khoản cá độ bóng đá như trên, các đối tượng thực hiện hành vi Tổ chức đánh bạc và đánh bạc từ tháng 2/2023 đến ngày 29/4/2023 thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện và bắt giữ.

Cụ thể hành vi của từng đối tượng như sau:

1. Hành vi phạm tội của Bùi Trọng H.

Khoảng cuối tháng 3/2023, do có nhu cầu đánh bạc cá độ bóng đá trên mạng nên Bùi Trọng H đã liên hệ với Nguyễn Thanh T5 để T5 cấp cho 01 tài khoản tham gia cá độ bóng đá trên mạng. Thản cấp cho H 01 tài khoản cá độ bóng đá F22222555001 với thoả thuận 50.000 đồng/1 điểm (H không nhớ hạn mức). H đã dùng điện thoại di động có kết nối internet đăng nhập tài khoản F22222555001 để tham gia cá cược nhiều kèo cá độ bóng đá khác nhau. H sử dụng tài khoản này được 01 thời gian thì tài khoản bị khoá nên H đã liên lạc với T5 đề nghị Thản cấp cho tài khoản khác. T5 đồng ý và cấp cho H 01 tài khoản cá độ bóng đá khác là tài khoản F22222555009, mật khẩu “Hung166188”, hạn mức là 1000 điểm. HT5 thỏa thuận 1 điểm = 50.000 đồng. Cả hai thống nhất tiền thắng thua sẽ gặp nhau trực tiếp để thanh toán bằng tiền mặt, 1 tuần thanh toán 1 lần hoặc qua tài khoản ngân hàng. H dùng số tài khoản ngân hàng E, ngân hàng M1; T5 dùng số tài khoản 104873006148 ngân hàng V2. H đã thanh toán xong tiền đánh bạc với T5.

*Căn cứ dữ liệu thu thập được xác định:

- Tài khoản F22222555001: Từ ngày 06/04/2023 đến ngày 09/04/2023, Bùi Trọng H cá cược 114 trận, 300 kèo với tổng số điểm đánh bạc là 72.177,14 điểm x 50.000 đồng = 3.608.857.000 đồng. Trong đó có 81 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng với tổng số điểm 39.245,60 điểm x 50.000 đồng = 1.962.280.000 đồng, 21 trận trên 50 triệu đồng với tổng số điểm 32.520,19 điểm x 50.000 đồng = 1.626.009.500 đồng; 12 trận dưới 5 triệu đồng với tổng số điểm 411,35 điểm = 20.567.500 đồng. Quá trình đánh bạc, H thua 10.673,49 điểm, hệ thống trả “com” phát sinh 118,05 điểm nên H chỉ phải thanh toán cho Thản số điểm: 10.673,49 - 118,05 = 10.555,44 điểm x 50.000 đồng = 527.674.500 đồng. H đã thanh toán với T5 bằng tiền mặt. Do đó, Bùi Trọng H sử dụng tài khoản F22222555001 cá độ bóng đá các trận từ đủ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng và các trận trên 50 triệu đồng là: 1.962.280.000 đồng + 1.626.009.500 đồng = 3.588.289.500 đồng.

- Tài khoản F22222555009: từ ngày 16/04/2023 đến ngày 29/04/2023, Bùi Trọng H cá cược 38 trận, 68 kèo cá độ bóng đá với tổng số điểm đánh bạc là 5687,8 điểm, 50.000 đồng/1 điểm = 284.981.500 đồng. Trong đó, 23 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng với tổng số điểm 4889,8 điểm x 50.000 đồng = 244.490.000 đồng; 15 trận dưới 5 triệu đồng với tổng số điểm 798 điểm x 50.000 đồng = 39.900.000 đồng. Quá trình đánh bạc, H thua 321,75 điểm, hệ thống trả “com” phát sinh 11,83 điểm nên H chỉ phải thanh toán cho Thản số điểm: 321,75 – 11,83 = 309,93 điểm x 50.000 đồng = 15.496.500 đồng. H đã thanh toán với T5 bằng tiền mặt.

Do đó, Bùi Trọng H sử dụng tài khoản F22222555009 cá độ bóng đá các trận từ đủ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng là: 244.490.000 đồng.

Như vậy, từ 06/4/2023 đến 29/4/2023 Bùi Trọng H đã sử dụng 02 tài khoản Member F22222555001 và F22222555009 để thực hiện hành vi cá độ bóng đá 104 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng và 21 trận trên 50 triệu đồng với tổng số tiền dùng đánh bạc đủ căn cứ truy tố là: 3.588.289.500 đồng + 244.490.000 đồng = 3.832.779.500 đồng.

2. Hành vi phạm tội của Đỗ Văn K.

Khoảng đầu tháng 04/2023, Đỗ Văn K có nhu cầu cá độ bóng đá qua mạng nên đã liên lạc với Đỗ Thành L đề nghị cấp cho tài khoản cá độ bóng đá. L có cấp cho K 01 tài khoản member F22222555002 với hạn mức 1000 điểm, 1 điểm quy ước là 15.000 đồng. Khương sử dụng điện thoại di động kết nối với mạng internet truy cập vào trang 3inbet, sau đó nhập tài khoản F22222555002, mật khẩu AZK999 để cá độ bóng đá.

Từ ngày 10/04/2023 đến ngày 26/04/2023, Đỗ Văn K cá cược 187 trận, 298 kèo với 129.378,83 điểm x 15.000 đồng = 1.940.682.450 đồng. Trong đó có 44 trận dưới 5 triệu với 6.480,85 điểm và 143 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng với 122.897,98 điểm x 15.000 đồng = 1.843.469.700 đồng. Quá trình đánh bạc, K thua 10.576,39 điểm, hệ thống trả “com” phát sinh 270,77 điểm nên K chỉ phải thanh toán cho L số điểm: 10.576,39 - 270,77 = 10.305,61 điểm x 15.000 đồng = 154.584.150 đồng. K đã sử dụng tài khoản 1976888888 Ngân hàng S2 của K chuyển 30.000.000 đồng vào tài khoản 106878136099 Ngân hàng V3 tên Đỗ Thị Thu H5 do L sử dụng. Đối với số tiền còn lại, K chưa thanh toán với L.

Như vậy, từ ngày 10/04/2023 đến ngày 26/04/2023, Đỗ Văn K đã sử dụng 01 tài khoản để thực hiện hành vi cá độ 145 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng với tổng số tiền dùng đánh bạc đủ căn cứ truy tố là: 1.843.469.700 đồng.

3. Hành vi phạm tội của Đỗ Vĩnh L1.

Khoảng cuối tháng 2 năm 2023, Đỗ Vĩnh L1 có quen biết Nguyễn Thế L3, cấp tài khoản chơi cá độ bóng đá. Do có nhu cầu chơi cá độ nên Đỗ Vĩnh L1 đã liên lạc với Nguyễn Thế L3 và được Thế L3 cấp cho 02 tài khoản Member F22222ttt001 và F22222ttt006 với mật khẩu đều là: qqq111, hạn mức 20.000 điểm để truy cập vào tham gia cá độ bóng đá. Cả hai thống nhất giá quy đổi 1 điểm = 30.000 đồng. Đỗ Vĩnh L1Nguyễn Thế L3 đã thanh toán với nhau bằng tiền mặt.

- Tài khoản F22222ttt001: từ ngày 13/02/2023 đến ngày 26/02/2023, Đỗ Vĩnh L1 cá cược 187 trận, 325 kèo bóng đá với tổng số điểm là 47.644,72 điểm x 30.000 đồng =1.429.341.600 đồng. Trong đó 8 trận từ 50 triệu đồng trở lên với tổng số điểm 20.461,58 điểm x 30.000 đồng = 613.847.400 đồng; 37 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng với tổng số điểm 20.360,39 điểm x 30.000 đồng = 610.811.700 đồng; 142 trận dưới 5 triệu đồng với tổng số điểm 6822,75 điểm = 204.682.500 đồng. Quá trình đánh bạc, Đỗ Vĩnh L1 thắng 10.131,60 điểm, hệ thống trả “com” phát sinh 77,82 điểm nên Thế L3 phải trả Đỗ Vĩnh L1 số điểm: 10.131,60 + 77,82 = 10.209,42 điểm x 30.000 đồng = 306.282.600 đồng. Thế L3 đã thanh toán cho Vĩnh L1 bằng tiền mặt.

Do đó, từ ngày 13/02/2023 đến ngày 26/02/2023, Đỗ Vĩnh L1 sử dụng tài khoản F22222ttt001 cá độ bóng đá 8 trận từ 50 triệu đồng trở lên và 37 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng là: 613.847.400 đồng + 610.811.700 đồng = 1.224.659.100 đồng.

- Tài khoản F22222ttt006, từ ngày 14/02/2023 đến ngày 03/03/2023, Đỗ Vĩnh L1 cá cược 59 trận, 124 kèo cá độ bóng đá với tổng số điểm đánh bạc là 40.262,89 điểm x 30.000 đồng = 1.207.886.700 đồng. Trong đó 10 trận từ 50 triệu đồng trở lên với tổng số điểm 18.587,82 điểm x 30.000 đồng = 557.634.600 đồng; 32 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng với tổng số điểm 21.290,81 điểm x 30.000 đồng = 638.724.300 đồng; 17 trận dưới 5 triệu đồng với tổng số điểm 384,26 điểm = 11.527.800 đồng. Quá trình đánh bạc, Đỗ Vĩnh L1 thua 667,52 điểm, hệ thống trả “com” phát sinh 73,01 điểm nên Vĩnh L1 phải trả Thế Long số điểm: 667,52 -73,01 = 594,51 điểm x 30.000 đồng = 17.835.300 đồng. Vĩnh Long đã thanh toán cho Thế L3 bằng tiền mặt.

Từ ngày 14/02/2023 đến ngày 03/03/2023, Đỗ Vĩnh L1 sử dụng tài khoản F22222ttt006 cá độ bóng đá 10 trận từ 50 triệu đồng trở lên và 32 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng với tổng số tiền 557.634.600 đồng + 638.724.300 đồng = 1.196.358.900 đồng.

Như vậy, từ ngày 13/2/2023 đến 03/3/2023, Đỗ Vĩnh L1 sử dụng 02 tài khoản để thực hiện hành vi cá độ 69 trận từ 5 triệu đến dưới 50 triệu đồng và 18 trận từ đủ 50 triệu trở lên với tổng số tiền dùng để đánh bạc đủ căn cứ truy tố là: 2.421.018.000₫.

4. Hành vi phạm tội của Nguyễn Tài S.

Khoảng tháng 1/2023, Nguyễn Tài S được Nguyễn Năng T6 cấp cho một tài khoản Member F22222ttt012, mật khẩu là “sang1984”, hạn mức 600 điểm để S cá độ. ST6 thống nhất 1 điểm là 50.000 đồng và gặp nhau trực tiếp 1 lần vào thứ 2 hàng tuần để thanh toán tiền thắng thua. Từ ngày 05/02/2023 đến ngày 06/03/2023, Nguyễn Tài S cá cược 165 trận, 300 kèo với 19.654,86 điểm x 50.000 đồng = 982.734.000 đồng. Trong đó, có 95 trận dưới 5 triệu đồng với 3.622,06 điểm = 181.103.000 đồng và 70 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng với tổng số điểm 16.032,80 điểm x 50.000 đồng = 801.640.000 đồng. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Tài S thắng 1.172,04 điểm, hệ thống trả “com” phát sinh 38,02 điểm nên Nguyễn Năng T6 phải trả Sang số điểm: 1.172,04 + 38,02 = 1.210,06 điểm x 50.000 đồng = 60.503.000 đồng. T6 đã thanh toán cho S.

Như vậy, từ ngày 05/02/2023 đến ngày 06/03/2023, Nguyễn Tài S đã sử dụng 1 tài khoản để thực hiện hành vi cá độ 70 trận từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng với số tiền đánh bạc đủ căn cứ truy tố là 801.640.000 đồng.

5. Hành vi phạm tội của Đỗ Thành L.

Ngày 23/8/2022, Đỗ Thành L đến Nhà tạm giữ Công an thành phố B để chấp hành án theo Bản án số 418 ngày 17/06/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc với mức phạt 54 tháng tù. Khoảng tháng 2/2023, L làm nhiệm vụ quét dọn tại khu vực cán bộ làm việc, hỏi cung thì phát hiện 01 bộ quần áo thu đông nam để ở trong ngăn bàn, bên trong có 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, lắp sim điện thoại và 01 sạc pin. Thấy vậy, L cất điện thoại và sạc còn quần áo thì bỏ vào thùng rác. Luân kiểm tra điện thoại thì thấy điện thoại đang để chế độ tắt nguồn, L bật lên thấy vẫn còn pin, hoạt động được, không để mật khẩu màn hình, có sẵn sim điện thoại nhưng L không biết rõ số sim. L tiếp tục kiểm tra thì thấy điện thoại vẫn còn tiền nên không phải nạp tiền vào điện thoại. Sau đó, L không báo cho cán bộ quản giáo biết, không mang điện thoại vào buồng mà cất ở thùng rác hoặc chôn xuống đất để sử dụng. L sử dụng điện thoại di động này đăng nhập vào mạng xã hội Telegram với nick là các ký tự nước ngoài (L không rõ là nước nào) liên hệ với Nguyễn Thanh T5 để hỏi thăm sức khoẻ. Quá trình nói chuyện LT5 thỏa thuận: L lấy tài khoản cá độ bóng đá từ một người thanh niên tên Q1, sinh năm khoảng từ 1984-1986 ở thị trấn L, huyện T rồi cấp lại tài khoản cho T5.

Khoảng giữa tháng 3/2023, L lấy tài khoản F222225550001 và F22222555009 từ Quỳnh với giá 50.000 đồng/1 điểm. Luân giao tài khoản này cho T5 với giá 50.000 đồng/1 điểm. Khi cấp tài khoản cho T5 thì L được Q1 cho ăn 2 giá (tức là khi đến ngày thanh toán tính tổng điểm nếu khách thua 1000 điểm thì L được 2.000.000 đồng, còn nếu khách thắng 1000 điểm thì L phải nộp vào 2.000.000 đồng. Để tiện theo dõi việc thắng thua, Q1 giao tài khoản Master F22222 cho L để L theo dõi. Sau đó, L cũng giao cho T5 tài khoản này để T5 theo dõi. LT5, Q1 chưa thanh toán tiền đánh bạc với nhau. Cả ba thống nhất thứ 2 hàng tuần sẽ chốt, nếu vượt mức 30 triệu hoặc 50 triệu thì sẽ thanh toán tiền với nhau. L với T5Q1 chưa thanh toán với nhau lần nào. L có sử dụng số tài khoản ngân hàng A, ngân hàng V3, mang tên Đỗ Thị Thu H5. Tài khoản này do L nhờ Nguyễn Thị Y, sinh năm 1988, HKTT: H, V, TP B, tỉnh Bắc Ninh (vợ L) mở cho để đòi nợ và thanh toán tiền sinh hoạt. Y đã nhờ chị Đỗ Thị Thu H5, sinh năm 2005, ở khu H, phường V, thành phố B là con nhà chú ruột của L mở tài khoản này. Quá trình đánh bạc thông qua 2 tài khoản, Bùi Trọng H bị thua tổng 10.865,37 điểm, L được hưởng lợi 21.730.740 đồng.

Khoảng đầu tháng 04/2023, Đỗ Văn K sử dụng nick Facebook là “Duy Khương” liên hệ với L qua nick Facebook của L là “Hồng Hồng” để hỏi thăm sức khỏe. Do K có nhu cầu lấy tài khoản cá độ bóng đá nên thông qua tài khoản Telegram, L lấy từ Quỳnh 01 tài khoản F22222555002 với thoả thuận 1 điểm là 15.000 đồng. L cấp tài khoản này lại cho K với thoả thuận 1 điểm là 15.000 đồng. Để tiện theo dõi việc thắng thua, L sử dụng tài khoản Master F22222 để tính tiền thắng thua với K. Cả hai thỏa thuận vào thứ hai hàng tuần, nếu vượt mức 30 triệu hoặc 50 triệu thì sẽ thanh toán tiền với nhau, sau đó L sẽ chuyển cho Q1. K đã sử dụng tài khoản 1976888888 Ngân hàng S2 của K chuyển 30.000.000 đồng vào tài khoản 106878136099 Ngân hàng V3 tên Đỗ Thị Thu H5 do L sử dụng. L chưa thanh toán với Q1.

Như vậy, trong tháng 4/2023, Đỗ Thành L đã cung cấp 02 tài khoản cho T5 để Thản cấp tài khoản cho H đánh bạc, cung cấp 1 tài khoản để K đánh bạc với tổng số tiền 03 tài khoản này là: 3.893.838.500 đồng + 1.940.682.450 đồng = 5.834.520.950 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn mô tả hành vi phạm tội của Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Năng T6, Nguyễn Thế L3, Nguyễn Tiến D1, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Năng N1, Nguyễn Năng V1 và Nguyễn Thì D.

Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2024/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố bị cáo Đỗ Thành L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Bùi Trọng H, Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn KNguyễn Tài S phạm tội “Đánh bạc”.

1. Áp dụng điểm c khoản 2 và khoản 3, Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 17; khoản 2 Điều 56; Điều 58 BLHS xử phạt: Đ (S1) năm tù. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù về tội “Tổ chức Đánh bạc” và 39 tháng tù về tội “Đánh bạc” của Bản án hình sự phúc thẩm số 418/2022/HSPT ngày 17/6/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả 02 bản án là 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành quyết định thi hành án của Bản án hình sự phúc thẩm số 418/2022/HSPT ngày 17/06/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2020 đến ngày 04/3/2021. Phạt bổ sung bị cáo 25 triệu đồng để sung Ngân sách Nhà nước. Truy thu số tiền dùng vào việc đánh bạc của Đỗ Thành L là 2.704.878.600 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

2. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt: Bùi Trọng H 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 29/4/2023 đến ngày 06/5/2023. Truy thu của Bùi Trọng H 1.528.407.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

3. Áp dụng điểm b, c khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt: Đỗ Vĩnh L1 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 29/4/2023 đến ngày 06/5/2023. Phạt bổ sung bị cáo 15 triệu đồng để sung Ngân sách Nhà nước. Truy thu của Đỗ Vĩnh L1 2.228.390.700 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

4. Áp dụng điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt: Đỗ Văn K 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2023 đến ngày 30/8/2023. Phạt bổ sung bị cáo 15 triệu đồng để sung Ngân sách Nhà nước. Truy thu của Đỗ Văn K 1.057.472.850 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

5. Áp dụng điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt: Nguyễn Tài S 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2023 đến ngày 27/7/2023. Phạt bổ sung bị cáo 15 triệu đồng để sung Ngân sách Nhà nước. Truy thu của Nguyễn Tài S 781.704.500 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 22 và 23/1/2024, các bị cáo Đỗ Thành L, Bùi Trọng H6 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin giảm số tiền truy thu; các bị cáo Đỗ Văn K, Đỗ Vĩnh L1, Nguyễn Tài S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo và giảm số tiền truy thu.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Trọng H xin rút toàn bộ kháng cáo;

Các bị cáo Đỗ Thành L, Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn KNguyễn Tài S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thừa nhận Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, bị cáo L chỉ xin giảm số tiền bị truy thu vì bị cáo chưa được hưởng lợi gì, gia đình bị cáo khó khăn, bố già yếu, đang bị ung thư, bị cáo Đỗ Vĩnh L1 trình bày xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, còn số tiền bị truy thu bị cáo sẽ có trách nhiệm nộp sau, các bị cáo Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn KNguyễn Tài S đều xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ mới như bị cáo L1, bị cáo S có công tố giác các đối tượng sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo L1 tích cực ủng hộ 3 triệu đồng cho Chương trình dinh dưỡng cho trẻ em nghèo, khuyết tật tỉnh Sơn La năm 2024, bị cáo K tích cực ủng hộ phòng chống Covid -19; các bị cáo K và bị cáo S xuất trình biên lai thu tiền thể hiện đã nộp lại toàn bộ số tiền bị truy thu và số tiền bị phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm nên đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành L, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với L; Chấp nhận một phần kháng cáo của Đỗ Vĩnh L1, sửa bản án sơ thẩm, theo hướng giảm nhẹ hình phạt, xử phạt bị cáo Đỗ Vĩnh L1 từ 24 đến 30 tháng tù; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn KNguyễn Tài S, giảm hình phạt cho bị cáo Nguyễn Tài S và đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn K và bị cáo Nguyễn Tài S mỗi bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của mỗi bị cáo là 5 năm tính từ ngày tuyên án phúc phẩm.

Về số tiền truy thu của các bị cáo đề nghị giữ nguyên như quyết định của bản án sơ thẩm.

Các các bị cáo Đỗ Thành L, Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn KNguyễn Tài S không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, các bị cáo Đỗ Thành L, Bùi Trọng H, Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn KNguyễn Tài S có kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Bùi Trọng H xin rút toàn bộ kháng cáo, do vậy căn cứ vào Điều 348 BLTTHS, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bị cáo H.

[2]. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Đỗ Thành L, Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn KNguyễn Tài S có mặt hoàn toàn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã kết. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 01/02/2023 đến ngày 29/4/2023 thông qua các tài khoản Member, Đỗ Thành L cùng các đối tượng, lợi dụng các trận đấu bóng đá của các giải bóng đá trên thế giới đã tổ chức đánh bạc và đánh bạc ăn tiền dưới hình thức cá độ bóng đá qua mạng Internet, L đã cung cấp 02 tài khoản cho Nguyễn Thanh T5 để Thản cấp tài khoản cho H đánh bạc; cung cấp 01 tài khoản để Đỗ Văn K đánh bạc với tổng số tiền 03 tài khoản này là: 5.834.520.950 đồng. L được hưởng lợi từ tài khoản H sử dụng là: 21.730.740 đồng, nhưng L chưa được nhận.

Các đối tượng tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá như sau: Nguyễn Thanh T5 được Đỗ Thành L cấp cho 02 tài khoản để tổ chức đánh bạc cho Bùi Trọng H với số tiền là: 3.893.838.500đ; Nguyễn Thế L3 đã cấp tài khoản cho Nguyễn Năng T6 để T6 giao lại cho Nguyễn Tài S đánh bạc và cấp tài khoản cho Đỗ Vĩnh L1 đánh bạc với tổng số tiền là: 3.619.962.300 đồng; Nguyễn Hữu H3 đã tổ chức đánh bạc cho Nguyễn Tiến D1 với tổng số tiền là 163.232.000 đồng và H3 đánh bạc với số tiền 121.478.000 đồng; Nguyễn Năng T6 đã tổ chức đánh bạc cho Nguyễn Tài S với tổng só tiền là: 982.734.000 đồng; Nguyễn Thì D đã tổ chức đánh bạc cho Nguyễn Văn N, Nguyễn Năng V1 với tổng số tiền là: 611.136.000 đồng; Bùi Trọng H đã sử dụng 02 tài khoản đánh bạc với tổng số tiền là: 3.832.779.500 đồng; Đỗ Vĩnh L1 đã sử dụng 02 tài khoản đánh bạc với tổng số tiền là: 2.421.018.000 đồng; Đỗ Văn K đã sử dụng 01 tài khoản để đánh bạc với số tiền là: 1.843.469.700 đồng; Nguyễn Tài S đã sử dụng 01 tài khoản để đánh bạc với số tiền là 801.640.000 đồng; Nguyễn Năng V1 sử dụng 01 tài khoản đánh bạc với số tiền là: 189.640.000 đồng; Nguyễn Văn N sử dụng 01 tài khoản đánh bạc với số tiền là: 112.462.500 đồng; Nguyễn Tiến D1 sử dụng 02 tài khoản đánh bạc với số tiền là 30.234.000 đồng.

Do vậy, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đỗ Thành L phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật hình sự; bị cáo Đỗ Vĩnh L1 phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; các bị cáo Đỗ Văn KNguyễn Tài S phạm tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo, xin giảm số tiền truy thu sung Ngân sách Nhà nước của các bị cáo Đỗ Thành L, Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn KNguyễn Tài S, HĐXX thấy rằng: Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là phù hợp, không nặng. Số tiền truy thu do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị cáo phải nộp lại là có căn cứ. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Thành L không đưa ra được căn cứ nào mới để HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cũng như giảm số tiền truy thu cho bị cáo. Do đó, cần bác kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành L, giữ nguyên án sơ thẩm.

Đối với bị cáo Đỗ Vĩnh L1 tại phiên toà phúc thẩm xuất trình thêm một số tình tiết giảm nhẹ mới đó là bị cáo có công tố giác 2 vụ tàng trữ trái phép chất ma tuý được Công an phường P và Công an phường P, thị xã Q xác nhận, ngoài ra bị cáo đã tích cực ủng hộ 3 triệu đồng cho Chương trình dinh dưỡng cho trẻ em nghèo, khuyết tật tỉnh Sơn La năm 2024 được Hội chữ thập đỏ thành phố T, tỉnh Bắc Ninh có thư cảm ơn nên cần áp dung thêm các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo Đỗ Vĩnh L1. HĐXX xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 BLHS xử bị cáo dưới khung hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, số tiền sử dụng vào việc đánh bạc rất lớn 2.421.018.300 đồng, bị cáo phạm tội 2 lần trở lên với 2 tình tiết định khung tặng nặng quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 BLHS nên không có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo.

Đối với bị cáo Đỗ Văn KNguyễn Tài S, tại phiên toà hôm nay đều xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ mới, bị cáo K đã tích cực ủng hộ phòng chống Covid - 19; bị cáo S đã tố giác đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý được Công an xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh xác nhận, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ chồng bị cáo S chung sống gần 20 năm nhưng chưa sinh được con; cả 2 bị cáo đều đã nộp toàn bộ số tiền bị truy thu, trong đó bị cáo K nộp 1.057.472.850 đồng, bị cáo S nộp 781.704.500 đồng thể hiện các bị cáo đã thực sự ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX xét thấy, mặc dù 2 bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng không có lần nào các bị cáo đánh bạc trên 50 triệu đồng nên tính chất các lần phạm tội của bị cáo K và bị cáo S đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền bị truy thu, tiền bị phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm, do vậy có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S và không cần phải cách ly các bị cáo Đỗ Văn KNguyễn Tài S ra khỏi xã hội mà cho 2 bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Đỗ Thành L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn KNguyễn Tài S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ Điều 348; điểm đ, khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự

    - Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Bùi Trọng H. Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HS-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đối với bị cáo H có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

    Áp dụng điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; khoản 2 Điều 56; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đỗ Thành L 06 (S1) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 39 tháng tù về tội “Đánh bạc” của Bản án hình sự phúc thẩm số: 418/2022/HSPT ngày 17/06/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả 02 bản án là 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2022, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2020 đến ngày 04/3/2021. Phạt bổ sung bị cáo 25 triệu đồng để sung Ngân sách Nhà nước. Truy thu số tiền dùng vào việc đánh bạc của Đỗ Thành L là 2.704.878.600 đồng sung Ngân sách Nhà nước (Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 20.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000437 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).

  3. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn KNguyễn Tài S, sửa bản án sơ thẩm.

    3.1. Áp dụng điểm b, c khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đỗ Vĩnh L1 02 (hai) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 29/4/2023 đến ngày 06/5/2023. Phạt bổ sung bị cáo 15 triệu đồng để sung Ngân sách Nhà nước. Truy thu của Đỗ Vĩnh L1 2.228.390.700 đồng sung Ngân sách Nhà nước. (Xác nhận bị cáo Đỗ Vĩnh L1 đã nộp số tiền 20.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000426 ngày 08/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).

    3. 2. Áp dụng điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Tài S 3 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 5 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 15 triệu đồng để sung Ngân sách Nhà nước. Truy thu của Nguyễn Tài S 781.704.500 đồng sung Ngân sách Nhà nước (Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 796.904.500 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001330 ngày 14/12/2023; số 0000556 ngày 17/5/2024 và số 0000560 ngày 20/5/2024; số 0000577 và số 0000579 cùng ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).

    3. 3. Áp dụng điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đỗ Văn K 3 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 15 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước. Truy thu của Đỗ Văn K 1.057.472.850 đồng sung Ngân sách Nhà nước. (Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 1.077.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000436 ngày 10/01/2024; số 0000559 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).

    Giao bị cáo Đỗ Văn K và bị cáo Nguyễn Tài S cho UBND phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh theo dõi, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  5. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đỗ Thành L phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Đỗ Vĩnh L1, Đỗ Văn KNguyễn Tài S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10 – CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam – CA tỉnh Bắc Ninh
  • - CQĐT; VKS; TAND thành phố Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; đương sự (qua đường công văn);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Hữu Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS – PT ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự (phúc thẩm) về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 31/2024/HS – PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Phúc thẩm) về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thành L và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" và "Tổ chức đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger