Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 28-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thành Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Phượng;
  2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Tòng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Dương Duy Bảo Nhi - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 27/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024, đối với bị cáo:

Ngô Minh C, sinh năm 1992, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số D, ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Tấn T và bà Tô Thị N; Có vợ tên Nguyễn Thị N1 và có 02 người con, lớn sinh năm 2012 và nhỏ sinh năm 2022; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

- Người bị hại: Anh Trịnh Minh T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số D, ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (Có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Anh Ngô Hữu P, sinh năm 2003; Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (Vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (Vắng mặt)
  3. Anh Trần Văn L, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (Vắng mặt)
  4. Chị Lê Ngọc Q, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (Vắng mặt)
  5. Ông Ngô Tấn T, sinh năm 1968; Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (Có mặt)
  6. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (Vắng mặt)
  7. Anh Lê Hoàng M, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 25/11/2023, Ngô Minh C sau khi đã uống rượu thì đi về nhà ở ấp N, xã V, huyện L. Khi đi ngang quán cà phê M của Lê Hoàng M ngụ cùng ấp thì C nhìn thấy M, Trịnh Minh T1, Nguyễn Văn C1, Trần Văn L, Ngô Hữu P và cha ruột C tên Ngô Tấn T đang ngồi uống bia trước quán thì C đi vào cùng ngồi uống. Trong lúc uống bia, C1 nói “Ở đây không ai uống bia nhanh bằng T1”, C không đồng ý nên cự cãi qua lại với T1 thì được mọi người can ngăn nên C đi bộ về nhà.

Khoảng 05 phút sau, C điều khiển xe mô tô biển số 66L9-9850 đem theo 01 con dao tầm bức bằng kim loại màu đen, dài 35cm, trọng lượng 640 gam, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 23cm, mũi bằng có một bề sắc bén rộng nhất 6,5cm hẹp nhất 3,5cm để trên ba ga giữa của xe chạy đến quán cà phê M tìm T1. Khi đến quán, T1 và mọi người đang còn ngồi uống bia trước quán M1. Lúc này, C lấy con dao cầm trên tay chạy đến phía sau lưng T1 chém T1 01 cái nhưng không trúng, T1 bỏ chạy vào bên trong quán thì bị vướng cái võng nên té sấp mặt xuống sàn gỗ. C cầm dao chém 01 cái từ phía sau tới trúng vào lưng trái của T1 gây thương tích, mọi người đến can ngăn thì C về nhà, còn T1 được đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã Vĩnh Thạnh rồi chuyển đến Bệnh viện Đ điều trị đến ngày 28/11/2023 thì xuất viện về nhà.

Đến ngày 30/11/2023, anh T1 gửi đơn đến Công an huyện L yêu cầu xử lý hình sự đối với C về hành vi cố ý gây thương tích.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của C giao nộp: Một con dao bằng kim loại màu đen dài 35cm, trọng lượng 640 gam, cán dao bằng kim loại màu đen hình tròn dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 23cm mũi bằng có một bề sắc bén rộng nhất 6,5cm hẹp nhất 3,5cm.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 101/KLTTCT-TTPYĐT ngày 05/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh T1 tại thời điểm giám định là 03%. Tổn thương trên do vật sắc gây ra. Chiều hướng hình thành tổn thương từ trên xuống dưới và từ phải sang trái.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, đều không có thắc mắc hay khiếu nại đối với kết quả giám định của các kết luận nêu trên.

Quá trình điều tra, anh T1 yêu cầu C bồi thường chi phí điều trị bệnh theo hóa đơn là 1.234.000 đồng, tiền mất thu nhập trong 01 tháng điều trị thương tích là 7.500.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh trong 03 ngày nằm viện là 750.000 đồng, không yêu cầu tiền tổn thất về tinh thần, tổng cộng là 9.484.000 đồng. C đồng ý bồi thường chi phí điều trị bệnh và tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh theo yêu cầu của anh T1. Đối với tiền mất thu nhập của T1 thì C chỉ đồng ý bồi thường là 10 ngày với số tiền 2.500.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSLVo ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Ngô Minh C về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm, quyết định truy tố Ngô Minh C về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Ngô Minh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • - Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Minh C mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 năm tù;
  • - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 586, 587 và 590 Bộ luật Dân sự. Chấp nhận sự nguyện của bị cáo Ngô Minh C bồi thường cho bị hại Trịnh Minh T1 tổng cộng các khoản là 9.484.000 đồng.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ một con dao bằng kim loại màu đen, chiều dài 35cm, trọng lượng 640gam, cán dao bằng kim loại màu đen hình tròn dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 23cm, mũi bằng có một bề sắc bén rộng nhất 6,5cm, hẹp nhất 3,5cm.

Tại phiên toà, bị cáo C2 đồng ý bồi thường cho bị hại T1 chi phí điều trị bệnh theo hóa đơn là 1.234.000 đồng, tiền mất thu nhập trong 01 tháng điều trị thương tích là 7.500.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh trong 03 ngày nằm viện là 750.000 đồng, tổng cộng các khoản là 9.484.000 đồng. Bị cáo Chung không có tranh luận với Kiểm sát viên và lời nói sau cùng của bị cáo là đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà, bị hại T1 yêu cầu bị cáo Chung bồi thường các khoản gồm chi phí điều trị bệnh theo hóa đơn là 1.234.000 đồng, tiền mất thu nhập trong 01 tháng điều trị thương tích là 7.500.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh trong 03 ngày nằm viện là 750.000 đồng, tổng cộng các khoản là 9.484.000 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Minh C khai nhận hành vi thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Cụ thể: Bị cáo Chung với bị hại T1 không có mâu thuẫn với nhau từ trước, nhưng vào khoảng 19 giờ 30 ngày 25/11/2023, sau khi bị cáo C uống rượu và trên đường về nhà đi ngang qua quán cà phê M của anh Lê Hoàng M ngụ ấp N, xã V, huyện L, thì bị cáo Chung nhìn thấy anh M, bị hại T1, ông Nguyễn Văn C1, anh Trần Văn L, anh Ngô Hữu P và ông Ngô Tấn T (cha ruột của bị cáo C2) đang ngồi uống bia, thì bị cáo C2 đi vào cùng ngồi uống. Trong lúc uống bia, anh C1 nói “ở đây không ai uống bia nhanh bằng T1”, thì bị cáo C2 không đồng ý nên xảy ra cự cãi qua lại với bị hại T1 và được mọi người can ngăn nên bị cáo C2 đi bộ về nhà. Khi về đến nhà bị cáo C2 mang theo 01 con dao tầm bức dài 35cm, trọng lượng 640 gam là hung khí nguy hiểm qua trở lại quán cà phê Minh C và cầm con dao trên tay chạy đến phía sau lưng bị hại T1 chém 01 cái nhưng không trúng, bị hại T1 bỏ chạy vào bên trong quán thì bị vướng cái võng nên té sấp mặt xuống sàn gỗ, thì bị cáo C chém tiếp 01 cái từ phía sau tới trúng vào lưng trái của bị hại T1 gây thương tích cho bị hại T1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.

[2.2] Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích, biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; phù hợp lời khai nhận của bị cáo, bị hại, những người làm chứng tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[2.3] Theo quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự thì: “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; i) Có tính chất côn đồ”.

[2.4] Như vậy, đối chiếu với quy định nêu trên cho thấy hành vi của bị cáo Chung đã thoả mãn dấu hiệu về mặt khách quan của tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[2.5] Xét thấy, bị cáo C2 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết được hành vi dùng con dao bằng kim loại để chém vào cơ thể của bị hại T1 là nguy hiểm, vi phạm pháp luật; bị cáo thấy trước được hậu quả của hành vi đó nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý.

[2.6] Hành vi của bị cáo Chung là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền được tôn trọng, bảo hộ về sức khỏe của bị hại T1; ngoài ra, còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

[2.7] Qua những phân tích như trên cho thấy, hành vi của bị cáo C2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng số 21/CT-VKSLVo ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Chung đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Vì vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm để có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bị hại T1 yêu cầu bị cáo Chung bồi thường các khoản gồm chi phí điều trị theo hoá đơn là 1.234.000 đồng, tiền thu nhập thực tế bị mất trong 01 tháng điều trị thương tích là 7.500.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh trong 03 ngày nằm viên là 750.000 đồng, tổng cộng các khoản là 9.484.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo Chung đồng ý bồi thường các khoản nêu trên theo yêu cầu của bị hại T1, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với một con dao bằng kim loại màu đen, chiều dài 35cm, trọng lượng 640gam, cán dao bằng kim loại màu đen hình tròn dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 23cm, mũi bằng có một bề sắc bén rộng nhất 6,5cm, hẹp nhất 3,5cm là công cụ mà bị cáo C2 dùng để phạm tội, nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Từ những phân tích nêu trên, cho thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo Chung bị kết tội và có nghĩa vụ bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại và không thuộc trường hợp không phải nộp hoặc miễn, giảm án phí theo quy định tại các điều 11, 12, 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, bị cáo Chung phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a và điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Chung, bị hại T1 đều có mặt tại phiên tòa, nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Minh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt: Bị cáo Ngô Minh C 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự.
  5. Buộc bị cáo Ngô Minh C có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Trịnh Minh T1 tổng cộng các khoản là 9.484.000 đồng (Chín triệu, bốn trăm tám mươi bốn nghìn đồng).

  6. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  7. Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) con dao bằng kim loại màu đen, chiều dài 35cm, trọng lượng 640gam, cán dao bằng kim loại màu đen hình tròn dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 23cm, mũi bằng có một bề sắc bén rộng nhất 6,5cm, hẹp nhất 3,5cm.

    (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp)

  8. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  9. Bị cáo Ngô Minh C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 474.200 đồng (Bốn trăm bảy mươi bốn nghìn, hai trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  10. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  11. Bị cáo Ngô Minh C và bị hại Trịnh Minh T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

  12. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Lấp Vò;
  • - Chi cục THADS huyện Lấp Vò;
  • - CQCSĐT Công an huyện Lấp Vò;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu: HSVA, VT (Nh).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thành Nhân

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 25/11/2023, Ngô Minh C sau khi đã uống rượu thì đi về nhà ở ấp N, xã V, huyện L. Khi đi ngang quán cà phê M của Lê Hoàng M ngụ cùng ấp thì C nhìn thấy M, Trịnh Minh T1, Nguyễn Văn C1, Trần Văn L, Ngô Hữu P và cha ruột C tên Ngô Tấn T đang ngồi uống bia trước quán thì C đi vào cùng ngồi uống. Trong lúc uống bia, C1 nói “Ở đây không ai uống bia nhanh bằng T1”, C không đồng ý nên cự cãi qua lại với T1 thì được mọi người can ngăn nên C đi bộ về nhà. Khoảng 05 phút sau, C điều khiển xe mô tô biển số 66L9-9850 đem theo 01 con dao tầm bức bằng kim loại màu đen, dài 35cm, trọng lượng 640 gam, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 23cm, mũi bằng có một bề sắc bén rộng nhất 6,5cm hẹp nhất 3,5cm để trên ba ga giữa của xe chạy đến quán cà phê M tìm T1. Khi đến quán, T1 và mọi người đang còn ngồi uống bia trước quán M1. Lúc này, C lấy con dao cầm trên tay chạy đến phía sau lưng T1 chém T1 01 cái nhưng không trúng, T1 bỏ chạy vào bên trong quán thì bị vướng cái võng nên té sấp mặt xuống sàn gỗ. C cầm dao chém 01 cái từ phía sau tới trúng vào lưng trái của T1 gây thương tích, mọi người đến can ngăn thì C về nhà, còn T1 được đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã Vĩnh Thạnh rồi chuyển đến Bệnh viện Đ điều trị đến ngày 28/11/2023 thì xuất viện về nhà. Đến ngày 30/11/2023, anh T1 gửi đơn đến Công an huyện L yêu cầu xử lý hình sự đối với C về hành vi cố ý gây thương tích. Cơ quan điều tra đã thu giữ của C giao nộp: Một con dao bằng kim loại màu đen dài 35cm, trọng lượng 640 gam, cán dao bằng kim loại màu đen hình tròn dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 23cm mũi bằng có một bề sắc bén rộng nhất 6,5cm hẹp nhất 3,5cm. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 101/KLTTCT-TTPYĐT ngày 05/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh T1 tại thời điểm giám định là 03%. Tổn thương trên do vật sắc gây ra. Chiều hướng hình thành tổn thương từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, đều không có thắc mắc hay khiếu nại đối với kết quả giám định của các kết luận nêu trên. Quá trình điều tra, anh T1 yêu cầu C bồi thường chi phí điều trị bệnh theo hóa đơn là 1.234.000 đồng, tiền mất thu nhập trong 01 tháng điều trị thương tích là 7.500.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh trong 03 ngày nằm viện là 750.000 đồng, không yêu cầu tiền tổn thất về tinh thần, tổng cộng là 9.484.000 đồng. C đồng ý bồi thường chi phí điều trị bệnh và tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh theo yêu cầu của anh T1. Đối với tiền mất thu nhập của T1 thì C chỉ đồng ý bồi thường là 10 ngày với số tiền 2.500.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger