Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 26/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu
  • Thẩm phán: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Quốc
  • Ông Ngô Văn Lầu
  • Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

  • Ông Trần Thanh Nam - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 và 21, 26 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Minh Đ; Sinh ngày: 23/8/1979; Nơi sinh: Tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: T083223 T08 V M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Nhân viên.; Trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Lê Viết H và bà Lê Thị T; sống chung như vợ chồng với bà: Nguyễn Thị Thanh V; Con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/01/2024 cho đến nay. (có mặt)

- Người bào chữa: Ông Vũ Quang V1-Luật sư của Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, Tầng G, Tòa nhà L sản xuất Công nghệ mới số H L, quận B, thành phố Hà Nội; (có mặt)

- Bị hại:

  1. Công ty TNHH P; Địa chỉ: Số B, đường T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm M; Sinh ngày 04/6/1962; Nơi cư trú: Số C C3 T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm M: Ông Ngô Minh Đ1; Sinh ngày 02/4/1990; Nơi cư trú: Số B, đường T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

  1. Công ty TNHH P1; Địa chỉ: Số B, đường T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm M; Sinh ngày 04/6/1962; Nơi cư trú: Số C C3 T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm M: Ông Ngô Minh Đ1; Sinh ngày 02/4/1990; Nơi cư trú: Số B, đường T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Công ty TNHH U; Đ2 chỉ: Tòa nhà H1, F Đ, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm M; Sinh ngày 04/6/1962; Nơi cư trú: Số C C3 T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm M: Ông Trần Đình V2, sinh ngày 27/8/1987; Nơi cư trú Số D, Đường T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (có mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Công ty TNHH U: Ông Nguyễn An N - Luật sư Công ty L2 và C; Địa chỉ: Số H đường N, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

  1. Bà Vương Ngọc Q; Sinh ngày 03/4/1985; Nơi cư trú: Số G đường số C, Phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt)
  2. Bà Hồ Thu N1; Sinh ngày 10/4/1997; Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (có mặt)
  3. Bà Nguyễn Thị Trà M1; Sinh ngày 08/6/1994; Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Ông Phan Văn H2; Sinh ngày 09/3/1994; Nơi cư trú: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
  5. Ông Đoàn Anh T1; Nơi cư trú: Thôn B, xã Ê, huyện K, tỉnh Đắk, L; (có mặt)
  6. Ông Lê Thanh H3; Sinh ngày 03/11/1977; Nơi cư trú: Số A Ngõ A T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH U (gọi tắt là Công ty U) là thành viên trực thuộc Tập đoàn UPC Renewables, được Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Do ông Lâm M làm Tổng giám đốc và là người đại diện theo pháp luật. Có trụ sở chính đặt số 669, đường Đ, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là Công ty quản lý dự án cho các Công ty TNHH P (gọi tắt là Công ty P) và Công ty TNHH P1 (gọi tắt là Công ty P1).

Công ty P và Công ty P1 được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh S cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đều do ông Trần Đức S làm Giám đốc và ông Lâm M là người đại diện theo pháp luật. Cả hai Công ty có trụ sở đặt cùng địa chỉ tại: số B, đường T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là các nhà đầu tư đến từ tập đoàn U1, đang thực hiện Dự án Nhà máy Đ4 và Dự án Nhà máy Đ5 từ nguồn vốn của Công ty U, trên địa bàn thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, theo Quyết định chủ trương đầu tư số 1191/QĐ-UBND và Quyết định số: 1190/QĐ-UBND cùng ngày 25/4/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh S.

Lê Minh Đ là nhân viên của Công ty U với vai trò, nhiệm vụ được giao là Quản lý đất đai Dự án của các Công ty P và Công ty P1. Nhiệm vụ của Lê Minh Đ là quản lý nghiệp vụ hỗ trợ thủ tục giải phóng mặt bằng cho dự án của các Công ty đầu tư.

Ngày 20/01/2022, ông Lê Minh Đ được các Công ty P và Công ty P1 bổ nhiệm làm đại diện của chủ đầu tư tham gia vào hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng Dự án xây dựng Nhà máy điện gió L và Hòa Đ3 với chức danh Quản lý đất đai Dự án.

Ngày 09/02/2022, Công ty P và Công ty P1 và Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho dự án ký kết phụ lục sửa đổi hợp đồng giải phóng mặt bằng để thống nhất việc Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Sóc Trăng sẽ phối hợp với Công ty P và Công ty P1 thực hiện trực tiếp việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đối với tuyến hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện cao áp trên không của các dự án.

Theo đó, với chức danh thành viên trong Hội đồng giải phóng mặt bằng của các dự án, Lê Minh Đ đã 04 lần đề nghị Công ty P và Công ty P1 cho Lê Minh Đ tạm ứng tiền để thay mặt các Công ty này chi thực hiện bồi thường tuyến đường hành lang của đường dây dẫn điện, cụ thể về thời gian và số tiền tạm ứng như sau:

- Đối với Công ty P:

Ngày 24/5/2022, Lê Minh Đ có giấy đề nghị tạm ứng với số tiền là 5.766.625.000 đồng. Đến ngày 01/6/2022, Công ty P có Phiếu ủy nhiệm chi số: 1180920022060100002 chuyển tiền từ số tài khoản ngân hàng TMCP Đ6 (B) 19910000667856 của Công ty đến số tài khoản ngân hàng TMCP Q1 (M2) cá nhân của Lê Minh Đ là 0212156899999 với số tiền 5.766.625.000 đồng, để chi trả cho 51 người dân có liên quan kèm theo giấy đề nghị tạm ứng.

- Đối với Công ty P1:

Ngày 07/6/2022, Lê Minh Đ có giấy đề nghị tạm ứng với số tiền là 6.017.050.000 đồng. Đến ngày 22/6/2022, Công ty P1 có Phiếu ủy nhiệm chi số: 1195947422061600004 chuyển tiền từ số tài khoản ngân hàng TMCP Đ6 (B) 19910000785244 của Công ty đến số tài khoản ngân hàng TMCP Q1 (M2) cá nhân của Lê Minh Đ là 0212156899999 với số tiền 6.017.050.000 đồng, để chi trả cho 168 người dân có liên quan kèm theo giấy đề nghị tạm ứng.

Ngày 19/7/2022, Lê Minh Đ có giấy đề nghị tạm ứng với số tiền là 6.911.800.000 đồng. Đến ngày 10/8/2022, Công ty P1 có Phiếu ủy nhiệm chi số: 1195947422080400002 chuyển tiền từ số tài khoản ngân hàng TMCP Đ6 (B) 19910000785244 của Công ty đến số tài khoản ngân hàng TMCP Q1 (M2) cá nhân của Lê Minh Đ là 0212156899999 với số tiền 6.911.800.000 đồng, để chi trả cho 168 người dân có liên quan kèm theo giấy đề nghị tạm ứng.

Ngày 11/10/2022, Lê Minh Đ có giấy đề nghị tạm ứng với số tiền là 7.960.000.000 đồng. Đến ngày 08/11/2022, Công ty P1 có Phiếu ủy nhiệm chi số: 1195947422110400001 chuyển tiền từ số tài khoản ngân hàng TMCP Đ6 (B) 19910000785244 của Công ty đến số tài khoản ngân hàng TMCP Q1 (M2) cá nhân của Lê Minh Đ là 0212156899999 với số tiền 7.960.000.000 đồng, để chi trả cho 168 người dân có liên quan kèm theo giấy đề nghị tạm ứng.

Sau khi Lê Minh Đ tạm ứng tiền của Công ty P và Công ty P1 với từng lần nói trên, do không có quy định bằng văn bản cụ thể về cách thức thực hiện bồi thường, chi trả cho người dân, nên Lê Minh Đ và các thành viên đã thống nhất thực hiện cách thức bồi thường, chi trả như sau: Các thành viên có tên trong Phiếu chi gồm ông Lâm M là Giám đốc, bà Vương Ngọc Q là Kế toán trưởng, Lê Minh Đ là Thủ quỹ, ông Đoàn Anh T1 là người lập phiếu chi sẽ trực tiếp thỏa thuận với người dân. Nếu thỏa thuận xong, thì người dân sẽ trực tiếp ký tên hoặc lăn tay vào Biên bản thỏa thuận trong mục Bên A và ký vào mục Người nhận tiền trong Phiếu chi. Đồng thời, các thành viên có tên trong Phiếu chi sẽ cùng ký tên vào phiếu chi. Sau đó, Lê Minh Đ là Thủ quỹ sẽ trực tiếp chi trả tiền mặt cho người dân. Sau đó, Lê Minh Đ làm thủ tục thanh toán đã chi trả và báo cáo về Công ty U.

Tổng cộng Lê Minh Đ đã tạm ứng tiền 04 lần của Công ty P và Công ty P1 với số tiền là 26.655.475.000 đồng, nhưng Lê Minh Đ chỉ thực hiện việc chi trả, bồi thường cho các hộ dân với tổng số tiền là 9.444.600.000 đồng (trong đó, chi trả, bồi thường cho 17 hộ dân bị ảnh hưởng bởi tuyến đường hành lang đường dây dẫn điện của Dự án Nhà máy điện gió Lạc Hòa với số tiền 2.773.000.000 đồng và 50 hộ dân bị ảnh hưởng bởi tuyến đường hành lang của đường dây dẫn điện của Dự án Nhà máy điện gió Hòa Đông với số tiền 6.671.600.000 đồng). Số tiền còn lại là 17.210.875.000 đồng (trong đó, Dự án Nhà máy Điện gió Lạc Hòa số tiền 2.993.625.000 đồng và Dự án Nhà máy Điện gió Hòa Đ3 số tiền 14.217.250.000 đồng).

Vào ngày 07/12/2022, ông Lâm M đã làm việc với Lê Minh Đ, yêu cầu Đ hoàn trả lại số tiền đã tạm ứng mà chưa chi trả cho người dân. Tuy nhiên, Lê Minh Đ thừa nhận đã chiếm đoạt hết số tiền 17.210.875.000 đồng này sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 21/3/2023, ông Trần Đình V2, chức vụ: Giám đốc pháp lý, đại diện Công ty U đã đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S tố giác hành vi của Lê Minh Đ đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền chi trả giải phóng mặt bằng của Công ty U với tổng số tiền 17.210.875.000 đồng.

Qua kết quả điều tra, cùng tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định:

Lê Minh Đ được phân công là Quản lý đất đai dự án của Công ty P và Công ty P1, đã tạm ứng với tổng số tiền 26.655.475.000 đồng, (trong đó Công ty P là 5.766.625.000 đồng và Công ty P1 là 20.888.850.000 đồng), để thực hiện chi trả cho biệc bồi thường tuyến đường hành lang đường dây dẫn điện của Dự án Nhà máy Điện gió L và Dự án Nhà máy. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, Lê Minh Đ chỉ mới chi trả được 9.444.600.000 đồng (trong đó, chi trả, bồi thường cho 17 hộ dân bị ảnh hưởng bởi tuyến đường hành lang đường dây dẫn điện của Dự án Nhà máy điện gió Lạc Hòa với số tiền 2.773.000.000 đồng và 50 hộ dân bị ảnh hưởng bởi tuyến đường hành lang của đường dây dẫn điện của Dự án Nhà máy điện gió Hòa Đông với số tiền 6.671.600.000 đồng). Số tiền còn lại là 17.210.875.000 đồng (trong đó, Dự án Nhà máy Điện gió Lạc Hòa số tiền 2.993.625.000 đồng và Dự án Nhà máy Điện gió Hòa Đ3 số tiền 14.217.250.000 đồng) Đ chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết, bằng phương thức, thủ đoạn sau:

Lê Minh Đ đã lợi dụng chức danh là Quản lý đất đai của Công ty P và Công ty P1 và lợi dụng việc Công ty P và Công ty P1 không quy định rõ về thời hạn thanh toán sau khi nhận được tiền tạm ứng và thời hạn phải chi trả, bồi thường tiền cho người dân bị ảnh hưởng bởi tuyến đường hành lang đường dây dẫn điện của Dự án Nhà máy Điện gió L và Dự án Nhà máy. Nên trong khoảng thời gian từ ngày 24/5/2022 đến ngày 07/12/2022, Đ đã nhiều lần thực hiện hành vi rút tiền mặt hoặc chuyển khoản chiếm đoạt hết tổng số tiền 17.210.875.000 đồng của Công ty P và Công ty P1 (trong đó, chiếm đoạt của Công ty P số tiền 2.993.625.000 đồng và chiếm đoạt của Công ty P1 số tiền 14.217.250.000 đồng) để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Minh Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do Đ tham gia đầu tư vào tiền kỹ thuật số USĐT nhưng bị lừa và có một số khoản nợ khác, nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Công ty U từ nguồn tiền Công ty đã cho Đ tạm ứng được gửi vào tài khoản ngân hàng TMCP Q1 (M2) cá nhân của Đ, để Đ tiếp tục có tiền tham gia đầu tư vào tiền kỹ thuật số USĐT và trả nợ, tiêu xài cá nhân. Nên Đ đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt hết số tiền 17.210.875.000 đồng của Công ty P và Công ty P1 bằng phương thức thủ đoạn nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, đã làm việc với lãnh đạo, nhân viên làm việc tại các bộ phận có liên quan đến việc thực hiện tạm ứng tiền và thực hiện việc bồi thường, chi trả cho người dân, bao gồm: Ông Lâm M, là Tổng Giám đốc Công ty U, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của Công ty P và Công ty P1; bà Vương Ngọc Q là Kế toán trưởng, bà Hồ Thu N1 và bà Nguyễn Thị Trà M1 đều là Kế toán viên của Công ty P và Công ty P1. Ông Phan Văn H2 là Chuyên viên giải phóng mặt bằng và ông Đoàn Anh T1 là Trợ lý phát triển dự án của Công ty U.

Qua làm việc, các người liên quan này đều xác định: Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Lê Minh Đ đã 04 lần làm thủ tục tạm ứng tiền của Công ty P và Công ty P1 với tổng số tiền là 26.655.475.000 đồng, để thực hiện chi trả cho việc bồi thường tuyến đường hành lang đường dây dẫn điện của Dự án Nhà máy Điện gió L và Dự án Nhà máy Điện gió H, nhưng Đ chỉ thực hiện việc chi trả, bồi thường cho các hộ dân với tổng số tiền là 9.444.600.000 đồng. Số tiền còn lại là 17.210.875.000 đồng, Đ chưa thực hiện việc chi trả. Đồng thời, trong quá trình thực hiện việc tạm ứng tiền và thực hiện việc bồi thường, chi trả cho người dân, thì những người liên quan này đều thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình và đúng trình thự, thủ tục theo quy định của Công ty, họ đều không biết Đ thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền 17.210.875.000 đồng từ tiền tạm ứng nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty U đã thực hiện việc chi trả, bồi thường xong cho các hộ dân bị ảnh hưởng bởi tuyến đường hành lang của đường dây dẫn điện của Dự án Nhà máy điện gió Lạc Hòa và Dự án Nhà máy Đ5 mà bị cáo Lê Minh Đ chưa chi trả từ nguồn vốn của Công ty U. Nên yêu cầu bị cáo Lê Minh Đ bồi thường lại cho C1 số tiền 17.210.875.000 đồng. Bị cáo Đ đồng ý bồi thường theo yêu cầu của Công ty U.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKS-P1 ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Lê Minh Đ về tội "Tham ô tài sản" theo điểm a khoản 4, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố Nhà nước xác định lại bị hại là Công ty TNHH P và Công ty TNHH P1; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH U đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số 24/CT-VKS-P1 ngày 22/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng và tuyên bố bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Tham ô tài sản”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng như:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội tham ô tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lê Minh Đ có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho Công ty, tự nguyện khai ra các lần phạm tội trước đó; Gia đình bị cáo có công; Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm b, s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử:

a) Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 353; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), phạt bị cáo 20 năm tù. Hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ từ 02 đến 04 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

b) Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng, gồm:

  • Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp, Quyết định phê duyệt chủ đầu tư Dự án Nhà máy Đ4 và Dự án Nhà máy Đ5... và thủ tục thanh toán chi trả, hỗ trợ cho từng người dân cụ thể (Biên bản thỏa thuận, Phiếu chi tiền, Phiếu trích lục diện tích đất bị ảnh hưởng bởi dự án...).
  • 04 giấy đề nghị tạm ứng bản gốc: Công ty P (01 giấy) và Công ty TNHH P1 (03 giấy), nội dung đề nghị: Lê Minh Đ tạm ứng để thay mặt Công ty chi thực hiện bồi thường tuyến đường hành lang của đường dây điện; 01 Hợp đồng lao động số: UPCRVM-LC-8 và 01 Bảng mô tả tiêu chuẩn công việc của Lê Minh Đ tại Công ty U.
  • 02 danh sách kèm theo hồ sơ, tài liệu có liên quan các hộ dân đã được và chưa được bồi thường tiền do ảnh hưởng bởi tuyến đường hành lang của đường dây điện của Dự án Nhà máy điện gió Lạc Hòa và Dự án Nhà máy Đ5.

Các vật chứng này, Cơ quan Cảnh sát điều tra đánh số bút lục và đưa vào hồ sơ vụ án để chứng minh hành vi phạm tội đối với bị cáo Lê Minh Đ.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 50.000.000 đồng do anh của bị cáo nộp khắc phục một phần hậu quả để đảm bảo thi hành án.

c) Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty U. Buộc bị cáo Lê Minh Đ bồi thường cho Công ty U số tiền bị chiếm đoạt 17.210.875.000 đồng.

*Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt cũng như về tính tiết tăng nặng giảm nhẹ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm và bị cáo gia đình bị cáo có người có công với cách mạng theo quy định tại điểm t, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên thì cũng đủ răng đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

* Người đại diện theo ủy quyền của bị hại Công ty TNHH P trình bày: Về trách nhiệm hình sự yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Do số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã được Công ty U hoàn trả lại cho bị hại để bị hại bồi thường cho người dân nên bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại mà bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty U.

* Người đại diện theo ủy quyền của bị hại Công ty TNHH P1 trình bày: Về trách nhiệm hình sự yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Do số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã được Công ty U hoàn trả lại cho bị hại để bị hại bồi thường cho người dân nên bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại mà bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty U.

* Người đại diện theo ủy của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Công ty U trình bày: Công ty U đã thanh toán cho các bị hại số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại nên yêu cầu bị cáo bồi thường lại cho Công ty U số tiền 17.210.875.000 đồng.

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Công ty U trình bày: Về trách nhiệm hình sự yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường lại số tiền đã chiếm đoạt là 17.210.875.000 đồng

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Trà M1 vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, bà M1 có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có lời khai trong quá trình điều tra. Xét sự vắng mặt của bà M1 không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 292 và 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, thống nhất quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Qua xét hỏi tại phiên tòa xác định được số tiền 17.210.875.000 đồng mà bị cáo chiếm đoạt là của Công ty TNHH P và Công ty TNHH P1. (trong đó, của Công ty TNHH P số tiền 2.993.625.000 đồng và Công ty TNHH P1 số tiền 14.217.250.000 đồng) nên cần xác định Công ty TNHH P, Công ty TNHH P1 là bị hại và Công ty U là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong vụ án như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[4] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung vụ án đã nêu ở phần trên. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định: Bị cáo Lê Minh Đ đã lợi dụng nhiệm vụ được phân công làm đại diện của chủ đầu tư tham gia vào hội đồng bồi thường, thành viên trong hội đồng giải phóng mặt bằng của các dự án Nhà máy Đ4 và H, trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2022 đến ngày 07/6/2022, bị cáo Đ đã nhiều lần tạm ứng, nhận số tiền 26.655.475.000 đồng để chi trả vào việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư cho các hộ dân, nhưng Đ thực hiện việc chi trả không đầy đủ. Số tiền tạm ứng còn lại 17.210.875.000 đồng, Đ đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt hết số tiền này của Công ty TNHH P, Công ty TNHH P1, do mình có trách nhiệm quản lý, sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết. Vì vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4, 6 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, là đúng người, đúng tội không oan cho bị cáo.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu và hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, gây thiệt hại rất nghiêm trọng về tài sản của Công ty TNHH P, Công ty TNHH P1, gây bất bình trong quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

[6] Trong vụ án này Cơ quan điều tra chứng minh được, bị cáo cũng khai nhận đã chiếm đoạt tiền của công ty nhiều lần đây là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo đặt ra là trong quá trình điều tra bị cáo cũng đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục 50.000.000 đồng; bị cáo trước khi phạm tội, có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo có công; các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo 01 phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu là thể hiện sự khoản hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Lê Minh Đ đảm nhiệm chức vụ 03 năm sau khi châp hành xong hình phạt.

[7] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận. Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ là bị cáo cáo tự thú ra những lần phạm tội trước theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là chưa đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận vì theo đơn tố cáo Công ty U đã tố cáo bị cáo có hành vi chiếm đoạt tổng số tiền 17.210.875.000 đồng và trong giai đoạn điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội chứ bị cáo không có tự thú ra hành vi phạm tội khác.

[8] Lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại b, s khoản 1 Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ chấp nhận. Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về việc áp dụng điểm t, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là chưa đủ căn cứ Hội đồng xét xử không chấp nhận vì sau khi bị cáo bị Công ty U tố cáo tại Cơ quan điều tra bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và đã được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nữa cho bị cáo, đối với tình tiết gia đình bị cáo có người có công với cách mạng thì tình tiết này bị cáo chỉ đủ điều kiện áp dụng là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và Hội đồng xét xử đã áp dụng cho bị cáo. Đối với đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự của người bào chữa cho bị cáo, xét thấy, do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng có 01 tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này của người bào chữa.

[9] Đối với các người liên quan: Ông Lâm M, bà Vương Ngọc Q, bà Hồ Thu N1, bà Nguyễn Thị Trà M1, ông Phan Văn H2, ông Đoàn Anh T1 đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Công ty, họ đêu không biết bị cáo Lê Minh Đ sau khi nhận số tiền tạm ứng 26.655.475.000 đồng để chi trả vào việc thực hiện bồi thường, nhưng Đ thực hiện việc chi trả không đầy đủ, mà thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền 17.210.875.000 đồng từ tiền tạm ứng nêu trên và những người liên quan này không được hưởng lợi ích gì từ số tiền do bị cáo Đ phạm tội mà có. Vì vậy, hành vi của các người liên quan này không có vai trò đồng phạm với bị cáo Lê Minh Đ hoặc phạm vào tội phạm khác, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty U yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.210.875.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường. Xét thấy, trong vụ án này mặc dù số tiền bị cáo chiếm đoạt là của 02 bị hại nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty U đã bỏ tiền ra trả lại cho các bị hại để các bị hại bồi thường cho người dân. Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện của các bị hại xác định Công ty U đã thanh toán cho các bị hại đầy đủ số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại và thống nhất với yêu cầu của Công ty U; tại phiên tòa bị cáo Lê Minh Đ đồng ý theo yêu cầu của Công ty U. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Công ty UPC buộc bị cáo bồi thường cho Công ty U số tiền 17.210.875.000 đồng.

[11] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục tạm giữ số tiền 50.000.000 đồng do anh của bị cáo nộp khắc phục một phần hậu quả để đảm bảo thi hành án.

[12] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Các điều 23 và 26 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Minh Đ phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 125.160.875 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng, tám trăm bảy mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[13] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 4, khoản 5. Khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Tham ô tài sản".
  2. Tuyên xử: Phạt bị cáo Lê Minh Đ 20 (hai mươi) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/01/2024.

Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Lê Minh Đ đảm nhiệm chức vụ 03 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

  1. Về trách nhiệm dân sự:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Buộc bị cáo bồi thường cho Công ty TNHH U tổng số tiền 17.210.875.000 đồng.

- Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:

+ Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

+ Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm.

  1. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục tạm giữ số tiền 50.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
  2. Về án phí:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Các điều 23 và 26 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

- Xử buộc bị cáo Lê Minh Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 125.160.875 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng, tám trăm bảy mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo:

- Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự

- Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1-TANDTC;
  • - TANDCC tại TPHCM;
  • - VKSNDCC tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - CQĐT - CA tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Sóc Trăng;
  • - PHSNV – Công an tỉnh Sóc Trăng
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Sóc Trăng;
  • - Bị cáo, Người bào chữa;
  • - Bị hại, Người bảo vệ;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hữu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tham ô tài sản

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê MInh Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger