Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/4/2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình, xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Thanh Trang.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 427/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thùy L, sinh năm 1990; Địa chỉ thường trú: khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Số B, đường T, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt)
  2. Bị đơn: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1980; Địa chỉ thường trú: Tổ F, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Số B, đường T, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thùy L trình bày: Bà L và ông H tự tìm hiểu, quen biết và đi đến hôn nhân vào năm 2005 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo số 57, ngày 11/3/2009. Quá trình chung sống đến năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên cãi nhau. Ông H ghen tuông vô cớ, nhiều lần bạo hành gia đình với bà L. Hiện tại bà L và ông H đã ly thân. Nhận thấy tình cảm đã không còn, không thể hàn gắn nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông H. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông H có 02 con chung tên Lê Thanh L1, sinh ngày 11/8/2005 (hiện đã trưởng thành) và Lê Thanh S, sinh ngày 13/12/2008 hiện đang sống chung với bà L. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung Lê Thanh S cho đến khi trưởng thành; không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H nhưng ông H vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

  • + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 BLTTDS. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203 BLTTDS năm 2015; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • + Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • + Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Vợ chồng phải có trách nhiệm yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc giúp đỡ cùng chia sẻ công việc trong gia đình. Từ khi mâu thuẫn xảy ra và bà L không còn chung sống với ông H nhưng cả hai không chủ động hàn gắn tình cảm và hơn nữa khi Tòa án triệu tập ông H đến để tham gia hòa giải thì ông H không đến. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà L yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận. Về con chung bà L đang nuôi con chung Lê Thanh S, cháu S có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với bà L. Do đó, để ổn định cuộc sống cho con nên giao con chung Lê Thanh S cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật; bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập xem xét.

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thùy L được ly hôn với ông Lê Thanh H; bà L được tiếp tục nuôi con chung Lê Thanh S, sinh ngày 13/12/2008; ông H không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Bà Trần Thùy L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H. Đồng thời, ông H cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Trần Thùy L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Thanh H được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thùy L và ông Lê Thanh H tự tìm hiểu, quen biết và đi đến hôn nhân vào năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo số 47 ngày 10/3/2009 là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Bà Trần Thùy L xác định vợ chồng không còn chung sống với nhau từ khi phát sinh mâu thuẫn; mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau, không nói chuyện và không còn cuộc sống vợ chồng. Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tòa án tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng ông H không tham gia, không có thiện chí để hòa giải hàn gắn tình cảm gia đình. Nhận thấy, mâu thuẫn gia đình giữa bà L và ông H là trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau, nếu có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được, hạnh phúc gia đình không còn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về việc ly hôn với ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Bà L và ông H có 02 con chung tên Lê Thanh L1, sinh ngày 11/8/2005 (đã trưởng thành) và Lê Thanh S, sinh ngày 13/12/2008 hiện đang sống chung với bà L. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung Lê Thanh S cho đến khi trưởng thành; không yêu cầu ông H cấp dưỡng.

Xét, con chung hiện cùng sống chung với bà L, bà L trực tiếp chăm sóc. Cuộc sống cháu đã ổn định, bà L có yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu S. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, bà L được tiếp tục nuôi dạy con chung Lê Thanh S, sinh ngày 13/12/2008. Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bà Trần Thùy L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Lê Thanh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà L đã nộp. Ông Lê Thanh H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thùy L.
    • Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thùy L được ly hôn với ông Lê Thanh H.
    • Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thanh L1, sinh ngày 11/8/2005 (đã trưởng thành) và Lê Thanh S, sinh ngày 13/12/2008. Bà Trần Thùy L được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Lê Thanh S, sinh ngày 13/12/2008. Ông Lê Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
    • Bà Trần Thùy L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Lê Thanh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
    • Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
    • Bà Trần Thùy L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003107 ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà Trần Thùy L đã nộp đủ án phí.
    • Ông Lê Thanh H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • Thời hạn kháng cáo của bà Trần Thùy L và ông Lê Thanh H là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
    • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Ngọc Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, xin ly hôn

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger