Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-4-2024

V/v “Ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Công.

Ông Phạm Văn Ngài.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dư – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long và điểm cầu thành phần tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Tòa án nhân dân huyện Càng Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 204/2023/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 10 năm 2023, về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 04 tháng 3 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 02 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc M, năm sinh 1975 (Có mặt tại điểm cầu thành phần UBND xã T).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1961 (Vắng mặt không lý do)

Đồng nơi cư trú: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản khai và tại phiên tòa bà Lê Ngọc M trình bày: Bà và ông Huỳnh Thanh H do mai mối tìm hiểu nhau được 04 tháng và được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh

phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do ông H không lo chí thú làm ăn, không quan tâm chăm lo cho cuộc sống gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung trong gia đình nên thường xuyên cự cải làm cho gia đình không được hạnh phúc mà không thể khắc phục được, ông H có lời lẽ hâm dọa làm ảnh hưởng đến tin thần của bà nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 04/2023 cho đến nay không hàn gắn được. Nhận thấy cuộc hôn nhân không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Thanh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Lê Quốc H1, sinh ngày 10/9/2008 hiện đang sống với bà và có nguyện vọng muốn được sống chung với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu, phải trả: Quá trình chung sống bà và ông H không tạo lập được tài sản chung, không thiếu nợ ai và cũng không ai thiếu nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Huỳnh Thanh H:

Vắng mặt không có lý do, nên không có bản khai.

Tại bản khai ngày 23 tháng 02 năm 2024 em Huỳnh Lê Quốc H1 trình bày: Em là con ruột của bà Lê Ngọc M và ông Huỳnh Thanh H. Hiện em đang sống với mẹ là bà M. Nếu cha mẹ không còn tiếp tục sống chung với nhau nữa thì nguyện vọng của em là muốn được sống chung với mẹ là bà Lê Ngọc M.

Vụ kiện đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng ông H không đến nên không thể hòa giải được và Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu, không bổ sung, cung cấp chứng cứ gì mới tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự; đối với bị đơn chưa thực hiện

đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Vị đề nghị áp dụng các Điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc M: Cho bà M được ly hôn với ông Huỳnh Thanh H. Về con chung: Giao con chung Huỳnh Lê Quốc H1, sinh ngày 10/9/2008 cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung là muốn sống chung với mẹ; Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà M chưa yêu cầu, nên không xem xét; Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Về tài sản chung và về nợ chung: các đưng sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết. Ngoài ra, V đề nghị nguyên đơn có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Càng Long nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc M đối với ông Huỳnh Thanh H có nơi cư trú tại ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Ngọc M là nguyên đơn và ông Huỳnh Thanh H là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án nhân dân huyện Càng Long triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng ông H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo luật định.

[3] Về hôn nhân: Bà Lê Ngọc M và ông Huỳnh Thanh H xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C vào ngày 13/10/2008 nên hôn nhân giữa bà M, ông H là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc được đến năm 2013 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông H không quan tâm chăm lo cho cuộc sống gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung trong gia đình nên thường xuyên cự cải làm cho gia đình không được hạnh phúc mà không thể khắc phục được nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay không hàn gắn được.

[4] Đối với ông Huỳnh Thanh H tuy hiện nay ông H không có mặt tại địa phương nhưng qua xác minh của Tòa án thì ông H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp N, xã T, huyện C và thỉnh thoảng ông H có về địa phương. Ngoài khi, quá trình giải quyết vụ án Tòa án có liên hệ cho ông H qua các số điện thoại: 0354.252.xxx và 0334.478.470 cùng bản khai trình bày của em Huỳnh Lê Quốc H1 thì ông H biết được bà M đang yêu cầu ly hôn với ông H. Tòa án có triệu tập nhiều lần nhưng ông H vắng mặt không có lý do, nên không có lời khai cũng như yêu cầu của ông, mặt dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, cũng như quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án. Do ông H vắng mặt xem như ông từ bỏ quyền lợi của mình.

[5] Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, ... ", nhưng bà M và ông H đã không thực hiện được các nghĩa vụ này với nhau. Cụ thể, qua xác minh từ chính quyền địa phương và hàng xóm của bà M, ông H thấy rằng tuy ông biết nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà M và ông H như thế nào nhưng đều thể hiện từ khi bà M về địa phương (ấp N) sinh sống thì ông H rất ít khi trở về địa phương mỗi lần ông H về cũng khoảng 1 – 2 tiếng thì bỏ đi, ông H cũng không phụ bà M nuôi dưỡng con chung. Ông H biết được bà M đang yêu cầu Tòa án giải quyết về việc tranh chấp hôn nhân giữa ông với bà M nhưng ông H không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình thể hiện ý chí không muốn đoàn tụ với bà M của ông H.

[6] Từ những nhận định trên, thấy rằng đời sống chung của vợ chồng bà M, ông H đang trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà M là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nên Tòa án chấp nhận yêu cầu, cho bà M được ly hôn với ông H.

[7] Về con chung: Em Huỳnh Lê Quốc H1, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2008 hiện đang sống chung với bà M và có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung với bà M. Do đó, cần giao em H1 cho bà M được quyền nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do đương sự không tranh chấp.

[8] Về tài sản chung: Tòa án đã giải thích theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng bà M xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về nợ chung: Do bà Lê Ngọc M xác định không nợ ai, cũng không ai nợ ông bà, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Ngọc M có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.

[11] Xét quan điểm của Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 70, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27, Tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Ngọc M được ly hôn với ông Huỳnh Thanh H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Lê Quốc H1, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2008 cho bà Lê Ngọc M tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung là muốn được sống chung với mẹ.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

4. Về tài sản chung; Về nợ chung: Các đưng sự không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Ngọc M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0017839, ngày 18 tháng 10 năm 2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long thu. Bà M đã nộp đủ án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý

do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã Tân Bình;
  • - Lưu: VT; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nhật Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger