Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 31/2024/DS-ST

Ngày 25-9-2024

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Ninh;

Ông Nguyễn Khắc Quyết;

Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QÐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (viết tắt là V1); địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Đình T - Trưởng bộ phận phòng xử lý nợ Phản ứng nhanh Khách hàng cá nhân Miền B - Khối quản trị rủi ro - Ngân hàng V1; bà Trần Thùy A - Chuyên viên xử lý nợ phòng xử lý nợ Phản ứng nhanh Khách hàng cá nhân Miền B - Khối quản trị rủi ro - Ngân hàng V1; ông Đào Việt A1 - Chuyên viên xử lý nợ phòng xử lý nợ Phản ứng nhanh Khách hàng cá nhân Miền B - Khối quản trị rủi ro - Ngân hàng V1; Là những người đại diện theo ủy quyền theo Văn bản ủy quyền số 62/2023/UQN-CTQT ngày 02-8-2023 của ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật của V1 cho ông Nguyễn Hồng B - Trưởng phòng xử lý nợ Phản ứng nhanh Khách hàng cá nhân Miền B - Khối quản trị rủi ro - Ngân hàng V1 và Văn bản ủy quyền số 4302/2024/UQ-KHCN ngày 15-7-2024 của ông Nguyễn Hồng B cho ông Lê Đình T, bà Trần Thùy A, ông Đào Việt A1; ông T và bà A có mặt; ông Việt A2 vắng mặt.

- Bị đơn:

Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Vũ Văn K, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Anh Vũ Văn Đ1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Chị Phan Thị T2, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Anh Vũ Văn D1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của ông Vũ Văn K, bà Nguyễn Thị Hồng Đ, anh Vũ Văn D1: Anh Vũ Văn Đ1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Là người đại diện theo ủy quyền theo giấy ủy quyền ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; anh Đ1 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 4 năm 2024, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (viết tắt là V1) với bà Ngô Thị T1 đã thỏa thuận và ký Hợp đồng tín dụng như sau:

Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-5-2023, số tiền vay là 1.695.000.000đ (Một tỷ sáu trăm chín mươi lăm triệu đồng); mục đích vay: Vay vốn để mua bất động sản tại thửa đất 1563.1, tờ bản đồ số 02 tại địa chỉ thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; thời hạn vay 300 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay; Giải ngân ngày 26-5-2023; Đến hạn ngày 26-5-2048; phương thức giải ngân: Chuyển tiền vào tài khoản của bà Ngô Thị T1; kỳ hạn trả nợ gốc: Gốc trả định kỳ hàng tháng, vào ngày 15 hàng tháng, kỳ trả nợ gốc đầu tiên là ngày 15-6-2023, số tiền nợ gốc bên vay phải trả mỗi kỳ là 5.885.000đồng, riêng kỳ cuối cùng trả 6.005.000đồng; kỳ hạn trả nợ lãi: định kỳ một tháng/lần vào ngày 15 hàng tháng, kỳ trả nợ lãi đầu tiên 15-6-2023. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 14,3%/năm (lãi suất tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân “thời gian cố định”. Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 hàng năm). Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 300 tháng được bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website:www.V1.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3%/năm. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay trong hạn, các bên thống nhất rằng khi xảy ra các sự kiện điều chỉnh lãi suất như quy định trong Hợp đồng này và các Phụ lục hợp đồng (nếu có), bên Ngân hàng sẽ tự động thực hiện việc điều chỉnh theo đúng các nội dung đã thỏa thuận và sẽ thông báo cho bên vay theo quy định của pháp luật. Bên vay chấp nhận mức lãi suất mới (sau đây trong Hợp đồng này và các phụ lục Hợp đồng được gọi chung là mức lãi suất cho vay điều chỉnh) kể từ thời điểm bên Ngân hàng thực hiện việc điều chỉnh và cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất được điều chỉnh. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn bằng 10%/năm.

Ngoài ra Hợp đồng tín dụng được các bên thỏa thuận các nội dung liên quan đến quan hệ tín dụng, quyền và nghĩa vụ của các bên.

Bà Ngô Thị T1 còn vay Ngân hàng theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023: Số tiền vay 282.000.000đồng, mục đích vay: Tiêu dùng, mua đồ gia dụng, lãi suất trong hạn: 25%/năm; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.

Để đảm bảo cho khoản vay, bà Ngô Thị T1 đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1563.1, tờ bản đồ số 02, diện tích 283,0m2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 335317, số vào sổ cấp GCN CH00662 do Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp ngày 27 tháng 8 năm 2021 cấp cho ông Vũ Văn K, ông Vũ Văn K đã chuyển nhượng cho ông Ngô Duy T3, địa chỉ tại thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384 CN 001; ông Ngô Duy T3 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Sỹ T4 vợ là bà Nguyễn Thị L1, địa chỉ tại thôn A xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.002; ông Nguyễn Sĩ T5, vợ là Nguyễn Thị L1 chuyển nhượng cho bà Phạm Thị H, địa chỉ tại tổ dân phố Q, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.003; bà Phạm Thị H chuyển nhượng cho bà Ngô Thị T1, địa chỉ tại Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.004 (theo Hợp đồng thế chấp số 9258988 ngày 05-6-2023 tại Văn phòng C Cảng, số B H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng số Công chứng 7902/HĐTC/2023, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD) theo đúng quy định của pháp luật.

Thực hiện các Hợp đồng tín dụng nêu trên, V1 đã giải ngân và bà Ngô Thị T1 đã nhận đủ số tiền vay theo các Hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên bà Ngô Thị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2024 cho đến nay nên khoản vay của bà Ngô Thị T1 đã bị chuyển nợ quá hạn. Quá trình thực hiện Hợp đồng bà T1 mới trả được 11.300.000 đồng tiền lãi của Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-5-2023 và trả được 01 đồng tiền gốc của Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023. V1 đã nhiều lần liên hệ, trao đổi, làm việc, đôn bà T1 trả nợ cho Ngân hàng nhưng bà T1 cố tình chây ì, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do bà T1 đã vi phạm thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết nên V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Ngô Thị T1 phải trả cho V1 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 25-9-2024 là 2.480.776.884đồng trong đó nợ gốc là 1.976.999.999đồng; nợ lãi trong hạn là 185.337.732đồng; nợ lãi quá hạn là 293.727.143 đồng; lãi chậm trả lãi là 24.712.010đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 26-9-2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 và Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên V1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1563.1, tờ bản đồ số 02, diện tích 283,0m2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 335317, số vào sổ cấp GCN CH00662 do Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp ngày 27 tháng 8 năm 2021 cấp cho ông Vũ Văn K, ông Vũ Văn K đã chuyển nhượng cho ông Ngô Duy T3, địa chỉ tại thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384 CN 001; ông Ngô Duy T3 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Sỹ T4 vợ là bà Nguyễn Thị L1, địa chỉ tại thôn A xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.002; ông Nguyễn Sĩ T5, vợ là Nguyễn Thị L1 chuyển nhượng cho bà Phạm Thị H, địa chỉ tại tổ dân phố Q, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.003; bà Phạm Thị H chuyển nhượng cho bà Ngô Thị T1, địa chỉ tại Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.004 (theo Hợp đồng thế chấp số 9258988 ngày 05-6-2023 tại Văn phòng C Cảng, số B H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng số Công chứng 7902/HĐTC/2023, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD) theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, bị đơn đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và biết việc V1 khởi kiện, tuy nhiên bị đơn không đến Tòa án theo giấy triệu tập để trình bày quan điểm của mình.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18-7-2024, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Vũ Văn K được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 335317, số vào sổ cấp GCN CH00662 ngày 27 tháng 8 năm 2021 là tài sản riêng của ông K. Do có nhu cầu vay tiền nên tháng 11 năm 2021 ông K có thế chấp nhà đất trên cho ông Ngô Duy T3, địa chỉ thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng và giao cho ông T3 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Số tiền vay lần đầu là 500.000.000đồng, tiền lãi là 5.000.000đồng/tháng. Các lần vay sau tổng cộng là 800.000.000đồng, tiền lãi là 2.000.000đồng/01 triệu/tháng. Tổng số tiền ông K đã vay của ông T3 là 1.300.000.000đồng. Tổng số tiền lãi phải trả ông T3 là 47.000.000đồng/tháng. Gia đình ông đã trả được ông T3 tiền lãi 5 tháng là 235.000.000đồng, đến tháng thứ 6 trả được 18.000.000đồng, đến tháng thứ 7 ông liên lạc để trả ông T3 30.000.000đồng nữa thì ông T3 thông báo đã chuyển nhượng nhà đất của ông cho người khác, không nhận tiền lãi của gia đình ông nữa, ông đến tìm ông T3 nhưng ông T3 không gặp. Ông chỉ vay tiền ông T3 chứ không chuyển nhượng đất cho ông T3 vì vậy việc ông T3 chuyển nhượng đất cho người khác là có dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và việc ông T3 cho ông vay với lãi suất 2.000.000đồng/triệu/tháng là có dấu hiệu của tội Cho vay lãi nặng nên ông đề nghị Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn chuyển hồ sơ sang Cơ quan cảnh sát điều tra có thẩm quyền để giải quyết. Đồng thời đề nghị Tòa án tuyên hủy các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông T3, giữa ông T3 với vợ chồng ông Nguyễn Sĩ T5, bà Nguyễn Thị L1, giữa vợ chồng bà L1 với bà H, giữa bà H với bà T1. Tuy nhiên tại Biên bản lấy lời khai ngày 02-8-2024 ông K và anh Đ1 đã xin rút lại các yêu cầu đề nghị Tòa án chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như yêu cầu hủy các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông T3, giữa ông T3 với vợ chồng ông Nguyễn Sĩ T5, bà Nguyễn Thị L1, giữa vợ chồng bà L1 với bà H, giữa bà H với bà T1. Ông K cũng rút lại đơn tố cáo khẩn cấp đề ngày 17-7-2024 đối với ông Ngô Duy T3 với lý do việc vay mượn tiền ông T3 là có thật, ông thừa nhận chữ ký trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Ngô Duy T3 là chữ ký của ông nên không có việc ông T3 lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của ông. Số tiền lãi 2.000.000đồng/01triệu/tháng theo ông và gia đình nắm được cũng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng. Vì vậy ông và gia đình xin rút lại các yêu cầu chuyển hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra và yêu cầu hủy các Hợp đồng chuyển nhượng. Đối với việc vay mượn tiền giữa ông với ông T3 ông sẽ giải quyết với ông T3 sau. Ông và gia đình sẽ tìm phương án trả tiền cho Ngân hàng T7 bà T1 để chuộc lại tài sản là nhà đất.

Tại phiên tòa:

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày:

Vào năm 2022 anh Vũ Văn Đ1 đến Ngân hàng trình bày nguyện vọng muốn vay tiền và thế chấp nhà đất của gia đình tại thửa đất số 1563.1, tờ bản đồ số 02, diện tích 283,0m2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Ngân hàng đã mời đơn vị tư vấn đến trực tiếp nhà đất của ông K, anh Đ1 để thực hiện việc xem xét, đánh giá tài sản bảo đảm, sau khi nhận được báo cáo tư vấn về giá tài sản bảo đảm và khả năng tài chính để trả nợ của ông K, anh Đ1, Ngân hàng định mức cho anh Đ1 vay được 800.000.000đồng. Anh Đ1 cho rằng số tiền đó thấp nên không vay Ngân hàng nữa. Sau đó ông K, anh Đ1 chuyển nhượng nhà đất cho ai thì Ngân hàng không nắm được. Đến năm 2023, bà Ngô Thị T1 đến Ngân hàng vay tiền và thế chấp cũng đúng nhà đất đó. Do thời hạn thẩm định giá trị tài sản chưa quá 01 năm nên Ngân hàng cho bà T1 vay tiền và không đi thẩm định lại giá nữa, tuy nhiên Ngân hàng vẫn cho người xuống xem xét hiện trạng tại thời điểm cho bà T1 vay. Do khả năng tài chính mà bà T1 chứng minh được tốt hơn anh Đ1 nên Ngân hàng đồng ý cho bà T1 vay 1.695.000.000đồng. Việc ký kết các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp giữa bà T1 với Ngân hàng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, Ngân hàng đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Trường hợp gia đình anh Đ1 có thiện chí trả hết nợ gốc thay cho bà T1, Ngân hàng sẽ xem xét, trình xin miễn, giảm tiền lãi, lãi phạt cho bà T1 theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Văn Đ1 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Văn K, bà Nguyễn Thị Hồng Đ, anh Vũ Văn D1 trình bày:

Anh công nhận lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng tại phiên tòa là đúng. Vào năm 2022 anh đến V1 để làm thủ tục vay tiền và thế chấp tài sản là nhà đất của gia đình tại thửa đất số 1563.1, tờ bản đồ số 02, diện tích 283,0m2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên sau khi đến thẩm định tài sản, Ngân hàng chỉ đồng ý cho vay 800.000.000đồng. Số tiền này không đủ để anh lo công việc nên anh không vay Ngân hàng nữa mà anh cùng với ông K đến gặp ông Ngô Duy T3 vay được số tiền 1.300.000.000đồng và thế chấp cho ông T3 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi đến hạn không trả được tiền cho ông T3, bố anh đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ông T3. Tuy nhiên cả gia đình anh vẫn ăn ở trên đất do ông T3 chưa đòi trả, việc ông T3 mua đi bán lại qua nhiều người thì anh không nắm được, chỉ đến khi Tòa án đến xem xét, thẩm định tại chỗ anh mới biết nhà đất đã sang tên bà Ngô Thị T1 và bà T1 đã mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay tiền Ngân hàng V1. Đến phiên tòa này thì anh thừa nhận gia đình anh không còn quyền lợi gì đối với nhà đất này. Anh mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện cho gia đình anh thêm thời gian để lo tiền trả nợ cho Ngân hàng thay bà T1 để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về và mong Ngân hàng miễn lãi, lãi phạt cho gia đình anh để anh có cơ hội trả hết tiền bà T1 còn nợ cho Ngân hàng để chuộc lại tài sản. Trường hợp gia đình anh không thể trả nợ cho Ngân hàng thay bà T1 thì anh và gia đình cũng đồng ý tự nguyện di dời các tài sản của mình ra khỏi nhà đất để trả lại cho Ngân hàng khi Ngân hàng yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản.

Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa mở lần thứ hai nên không lấy được ý kiến của bị đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa và lời khai của đương sự đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 118, 119, 280, 295, 298, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 500 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167 Luật Đất đai; các điều 91, 95, 98 của Luật các tổ chức Tín dụng; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bà Ngô Thị T1 phải trả cho Ngân hàng V1 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25-9-2024 là: 2.480.776.884đồng trong đó nợ gốc là 1.976.999.999đồng; nợ lãi trong hạn là 185.337.732 đồng; nợ lãi quá hạn là 293.727.143đồng; lãi chậm trả lãi là 24.712.010đồng theo Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 và Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023 và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 26-9-2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 và Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp bà Ngô Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên V1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1563.1, tờ bản đồ số 02, diện tích 283,0m2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 335317, số vào sổ cấp GCN CH00662 do Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp ngày 27 tháng 8 năm 2021 cấp cho ông Vũ Văn K, ông Vũ Văn K đã chuyển nhượng cho ông Ngô Duy T3, địa chỉ tại thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384 CN 001; ông Ngô Duy T3 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Sỹ T4 vợ là bà Nguyễn Thị L1, địa chỉ tại thôn A xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.002; ông Nguyễn Sĩ T5, vợ là Nguyễn Thị L1 chuyển nhượng cho bà Phạm Thị H, địa chỉ tại tổ dân phố Q, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.003; bà Phạm Thị H chuyển nhượng cho bà Ngô Thị T1, địa chỉ tại Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.004 (theo Hợp đồng thế chấp số 9258988 ngày 05-6-2023 tại Văn phòng C Cảng, số B H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng số Công chứng 7902/HĐTC/2023, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD). Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản mà còn thừa thì trả lại cho bà Ngô Thị T1; trường hợp việc phát mại tài sản mà không đủ trả nợ cho V1 thì bà Ngô Thị T1 phải có nghĩa vụ thanh toán đủ cho V1 cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ.

- Bà Ngô Thị T1 phải nộp 81.615.538đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về Hợp đồng tín dụng, mục đích vay để mua bất động sản tại thửa đất 1563.1, tờ bản đồ số 02 tại địa chỉ thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng nên theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Ngô Thị T1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phan Thị T2, chị Nguyễn Thị Ngọc L đều vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai mà không vì lý do khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà Ngô Thị T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phan Thị T2, chị Nguyễn Thị Ngọc L. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là ông Vũ Văn K, bà Nguyễn Thị Hồng Đ, anh Vũ Văn D1 đã ủy quyền cho anh Vũ Văn Đ1, tại phiên tòa anh Đ1 có mặt nên việc vắng mặt của ông K, bà Đ, anh D1 là hợp lệ.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Xét yêu cầu của Ngân hàng đề nghị bà Ngô Thị T1 phải trả cho V1 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25-9-2024 là 2.480.776.884đồng trong đó nợ gốc là 1.976.999.999đồng; nợ lãi trong hạn là 185.337.732đồng; nợ lãi quá hạn là 293.727.143đồng; lãi chậm trả lãi là 24.712.010đồng theo Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 và Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023 thấy:

[3.1.1] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa đã xác định được: Giữa Ngân hàng và bà Ngô Thị T1 có quan hệ Hợp đồng tín dụng. Theo đó Ngân hàng đã ký với bà T1 Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 và Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023. Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ và đúng hạn cho bên vay vào tài khoản của bà Ngô Thị T1. Nhưng sau đó bên vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và không thanh toán đầy đủ các khoản nợ từ thời điểm ngày 15 tháng 01 năm 2024 cho đến nay. Ngân hàng đã có các văn bản đôn đốc trả nợ nhiều lần nhưng không có kết quả. Tính đến ngày 25-9-2024 bà Ngô Thị T1 còn nợ Ngân hàng số tiền là 2.480.776.884đồng trong đó nợ gốc là 1.976.999.999đồng; nợ lãi trong hạn là 185.337.732đồng; nợ lãi quá hạn là 293.727.143đồng; lãi chậm trả lãi là 24.712.010đồng.

[3.1.2] Xét Hợp đồng tín dụng được ký giữa bà Ngô Thị T1 và đại diện của Ngân hàng có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Các bên tham gia ký kết Hợp đồng đều có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 118, 119 Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 4, 7, 10, 12, 30, 31 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 của Thống đốc ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Do đó, Hợp đồng tín dụng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định trong Hợp đồng.

[3.1.3] Xét yêu cầu đòi nợ gốc: Quá trình thực hiện Hợp đồng, Ngân hàng đã thực hiện việc giải ngân và bà Ngô Thị T1 đã nhận đủ số tiền vay là 1.977.000.000đồng, như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng; bà Ngô Thị T1 đã trả được 01đồng nợ gốc. Như vậy đủ cơ sở kết luận bị đơn đã vi phạm các điều khoản cam kết trong Hợp đồng tín dụng, chậm thanh toán các khoản nợ đến hạn nên việc Ngân hàng kiện yêu cầu bà T1 phải thanh toán số tiền nợ gốc 1.976.999.999 đồng theo các Hợp đồng tín dụng là có căn cứ được chấp nhận.

[3.1.4] Xét yêu cầu đòi nợ lãi trong hạn: Căn cứ vào bảng tính lãi và các văn bản về lãi suất V1 cung cấp và theo sự thỏa thuận của các bên tại điểm a, b, c khoản 7 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023; phù hợp với quy định tại khoản 1, 3 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận. Cụ thể tiền nợ lãi trong hạn tính đến ngày 25-9-2024 là 185.337.732đồng.

[3.1.5] Xét yêu cầu đòi nợ lãi quá hạn: Theo điểm e khoản 7 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 hai bên thỏa thuận lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Mức lãi suất quá hạn hai bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 của Thống đốc ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên được chấp nhận. Tiền nợ lãi quá hạn tính đến ngày 25-9-2024 là 293.727.143đồng.

[3.1.6] Xét yêu cầu đòi nợ lãi chậm trả lãi: Theo điểm f khoản 7 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 hai bên thỏa thuận lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi chậm trả lãi hai bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 của Thống đốc ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên được chấp nhận. Cụ thể lãi chậm trả lãi tính đến ngày 25-9-2024 là 24.712.010đồng.

[3.1.7] Từ những nhận định trên, đủ căn cứ xác định: Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25-9-2024) bà Ngô Thị T1 còn nợ V1 tổng số tiền là 2.480.776.884đồng trong đó nợ gốc là 1.976.999.999đồng; nợ lãi trong hạn là 185.337.732đồng; nợ lãi quá hạn là 293.727.143đồng; lãi chậm trả lãi là 24.712.010đồng.

[3.1.8] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 và Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.2] Xét yêu cầu của Ngân hàng đề nghị phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng, bà Ngô Thị T1 đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp số 9258988 ngày 05-6-2023 tại Văn phòng C Cảng, số B H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng số Công chứng 7902/HĐTC/2023, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1563.1, tờ bản đồ số 02, diện tích 283,0m2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 335317, số vào sổ cấp GCN CH00662 do Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp ngày 27 tháng 8 năm 2021 cấp cho ông Vũ Văn K, ông Vũ Văn K đã chuyển nhượng cho ông Ngô Duy T3, địa chỉ tại thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384 CN 001; ông Ngô Duy T3 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Sỹ T4 vợ là bà Nguyễn Thị L1, địa chỉ tại thôn A xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.002; ông Nguyễn Sĩ T5, vợ là Nguyễn Thị L1 chuyển nhượng cho bà Phạm Thị H, địa chỉ tại tổ dân phố Q, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.003; bà Phạm Thị H chuyển nhượng cho bà Ngô Thị T1, địa chỉ tại Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.004.

Việc thế chấp này đã được bà Ngô Thị T1 đăng ký giao dịch bảo đảm theo đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K ngày 06 tháng 6 năm 2023 theo đúng quy định của pháp luật. Xét hợp đồng thế chấp tài sản được ký giữa chủ tài sản với Ngân hàng, có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, được chứng thực của Văn phòng C Cảng, số B H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng số Công chứng 7902/HĐTC/2023, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05 tháng 6 năm 2023 và Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 06 tháng 6 năm 2023 là phù hợp với quy định tại các Điều 298, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 500 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 10, Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; mục 6 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 61 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19-3-2021 quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên có hiệu lực và là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên, buộc các bên phải thực hiện. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05-7-2024 thể hiện nội dung: Kể từ khi bà T1 ký Hợp đồng thế chấp ngày 05-6-2023 cho đến nay, nhà đất thế chấp cho Ngân hàng vẫn giữ nguyên hiện trạng, không cơi nới, xây mới gì thêm, không thực hiện bất cứ giao dịch nào liên quan đến tài sản thế chấp, nhà đất hiện do gia đình ông K quản lý. Gia đình ông K cũng công nhận việc có vay ông Ngô Duy T3 số tiền 1.300.000.000đồng và thế chấp nhà đất trên cho ông T3, ông T3 là người cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính. Nhà đất này là tài sản riêng của ông K nên khi không trả được nợ cho ông T3, ông K đã tự nguyện ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T3, không có việc ông T3 lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của ông K, sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng cho ông T3, ông T3 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Sĩ T5, vợ là Nguyễn Thị L1; vợ chồng ông T5, bà L1 chuyển nhượng lại cho bà Phạm Thị H; bà Phạm Thị H chuyển nhượng cho bà Ngô Thị T1, sau đó bà T1 đem nhà đất đi thế chấp để vay tiền Ngân hàng. Vì vậy xác định Ngân hàng là người thứ ba ngay tình, Hợp đồng thế chấp được ký kết, công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên V1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Đối với ý kiến của ông Vũ Văn K và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Văn Đ1 xin rút yêu cầu đề nghị chuyển hồ sơ sang Cơ quan điều tra để điều tra dấu hiệu của tội “Cho vay lãi nặng” đối với ông Ngô Duy T3 thấy: Ông K và anh Đ1 khai vay của ông Ngô Duy T3 tổng cộng là 1.300.000.000đồng, tiền lãi hàng tháng phải trả là 47.000.000đồng như vậy tương đương 3,5%/tháng và tương đương 42%/năm. Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì: “Cho vay lãi nặng là trường hợp bên cho vay cho bên vay vay tiền với mức lãi suất gấp 5 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự”. Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay.....”. Như vậy nếu ông Ngô Duy T3 cho ông Vũ Văn K vay với lãi suất 100%/năm mới có dấu hiệu phạm tội “Cho vay lãi nặng”, theo ông K cung cấp ông T3 tính lãi 42%/năm đối với khoản tiền đã cho ông K vay tuy có cao hơn so với lãi suất Ngân hàng N quy định nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cho vay lãi nặng”. Nên việc ông K và anh Đ1 rút yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra là có căn cứ. Về việc vay nợ giữa ông K và ông T3, ông T3 có quyền khởi kiện ông T3 bằng một vụ án dân sự khác nếu thấy quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi có đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh.

[5] Đối với ý kiến của ông Vũ Văn K và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Văn Đ1 xin rút yêu cầu hủy các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Vũ Văn K với ông Ngô Duy T3; giữa ông Ngô Duy T3 với ông Nguyễn Sỹ T4 vợ là bà Nguyễn Thị L1; giữa ông Nguyễn Sĩ T5, vợ là Nguyễn Thị L1 với bà Phạm Thị H; giữa bà Phạm Thị H với bà Ngô Thị T1 thấy: Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập tài liệu chứng cứ đối với Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện K là cơ quan đang lưu giữ các Hợp đồng nêu trên theo Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số 30/2024/QĐ-CCTLCC ngày 11-7-2024 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện K cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc ghi chú biến động đất đai đối với nhà đất nêu trên. Tài liệu thể hiện nhà đất tại thửa đất số 1563.1, tờ bản đồ số 02, diện tích 283,0m2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng là của ông Vũ Văn K được nhận thừa kế riêng từ năm 2020, sau đó ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27-8-2021. Ông K thừa nhận chữ ký trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Ngô Duy T3 là chữ ký của ông, Hợp đồng được Công chứng tại Phòng C1, Số A đường L, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng ngày 18-11-2021 và có đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K ngày 03-10-2022. Sau đó ông T3 ký Hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Sĩ T5, bà Nguyễn Thị L1; vợ chồng ông T5, bà L1 ký Hợp đồng chuyển nhượng cho bà Phạm Thị H; bà Phạm Thị H ký Hợp đồng chuyển nhượng cho bà Ngô Thị T1. Tất cả các Hợp đồng chuyển nhượng này đều được Công chứng tại Phòng C1 và có đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K. Như vậy trình tự thủ tục đúng quy định của pháp luật. Tại các biên bản lấy lời khai tại Tòa án ông K cũng thừa nhận không có việc ông T3 lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của ông mà bản chất là ông vay tiền ông T3 nhưng không trả được nợ nên đồng ý chuyển nhượng nhà đất để trả nợ cho ông T3. Vì vậy ông đã xin rút yêu cầu hủy các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Vũ Văn K với ông Ngô Duy T3; giữa ông Ngô Duy T3 với ông Nguyễn Sỹ T4 vợ là bà Nguyễn Thị L1; giữa ông Nguyễn Sĩ T5, vợ là Nguyễn Thị L1 với bà Phạm Thị H; giữa bà Phạm Thị H với bà Ngô Thị T1 là có căn cứ.

[6] Từ phân tích tại các mục [3]; [4]; [5] thấy gia đình ông Vũ Văn K; bà Nguyễn Thị Hồng Đ; anh Vũ Văn Đ1; chị Phan Thị T2; anh Vũ Văn D1; chị Nguyễn Thị Ngọc L không còn quyền lợi gì đối với nhà đất tại thửa đất số 1563.1, tờ bản đồ số 02, diện tích 283,0m2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng nữa và phải có trách nhiệm di dời các tài sản của gia đình ra khỏi thửa đất khi Cơ quan Thi hành án tiến hành việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo yêu cầu của Ngân hàng.

[7] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 118, 119, 280, 295, 298, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 500 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167 Luật Đất đai; các điều 91, 95, 98 của Luật các tổ chức Tín dụng; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (viết tắt là V1):
    1. Buộc bà Ngô Thị T1 phải trả cho Ngân hàng V1 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25-9-2024 là 2.480.776.884₫ (Hai tỷ bốn trăm tám mươi triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn tám trăm tám mươi tư) đồng trong đó nợ gốc là 1.976.999.999đ (Một tỷ chín trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi chín) đồng; nợ lãi trong hạn là 185.337.732đ (Một trăm tám mươi lăm triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn bảy trăm ba mươi hai) đồng; nợ lãi quá hạn là 293.727.143 ₫ (Hai trăm chín mươi ba triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn một trăm bốn mươi ba) đồng; lãi chậm trả lãi là 24.712.010₫ (Hai mươi tư triệu bảy trăm mười hai nghìn không trăm mười) đồng theo Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 và Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023.
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 và Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
    3. Trường hợp bà Ngô Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, V1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1563.1, tờ bản đồ số 02, diện tích 283,0m2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 335317, số vào sổ cấp GCN CH00662 do Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp ngày 27 tháng 8 năm 2021 cấp cho ông Vũ Văn K, ông Vũ Văn K đã chuyển nhượng cho ông Ngô Duy T3, địa chỉ tại thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384 CN 001; ông Ngô Duy T3 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Sỹ T4 vợ là bà Nguyễn Thị L1, địa chỉ tại thôn A xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.002; ông Nguyễn Sĩ T5, vợ là Nguyễn Thị L1 chuyển nhượng cho bà Phạm Thị H, địa chỉ tại tổ dân phố Q, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.003; bà Phạm Thị H chuyển nhượng cho bà Ngô Thị T1, địa chỉ tại Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo hồ sơ số 000384.CN.004 (theo Hợp đồng thế chấp số 9258988 ngày 05-6-2023 tại Văn phòng C Cảng, số B H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng số Công chứng 7902/HĐTC/2023, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD) để thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền trên cho Ngân hàng V1.
    4. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì bà Ngô Thị T1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số LN2305259258988 ngày 26-05-2023 và Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10-6-2023 được ký kết giữa Ngân hàng V1 với bà Ngô Thị T1.
    5. Trường hợp phát mại tài sản thế chấp, nếu giá trị tài sản sau khi thanh toán cho Ngân hàng vẫn còn thừa thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại cho bà Ngô Thị T1.
  2. Buộc gia đình ông Vũ Văn K; bà Nguyễn Thị Hồng Đ; anh Vũ Văn Đ1; chị Phan Thị T2; anh Vũ Văn D1; chị Nguyễn Thị Ngọc L có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản của mình ra khỏi nhà đất tại thửa đất số 1563.1, tờ bản đồ số 02, diện tích 283,0m2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng để đảm bảo cho Cơ quan Thi hành án thực hiện việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo yêu cầu của Ngân hàng V1.
  3. Về án phí sơ thẩm: Bà Ngô Thị T1 phải nộp số tiền 81.615.538đ (T6 mươi mốt triệu sáu trăm mười lăm nghìn năm trăm ba mươi tám) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Trả lại cho V1 số tiền 38.408.300đ (Ba mươi tám triệu bốn trăm linh tám nghìn ba trăm) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006605 ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
  5. Về quyền kháng cáo:
    • Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
    • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Văn Đ1 có mặt tại phiên tòa; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Văn K, bà Nguyễn Thị Hồng Đ, anh Vũ Văn D1 vắng mặt nhưng đã có người đại diện hợp pháp là anh Vũ Văn Đ1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phan Thị T2, chị Nguyễn Thị Ngọc L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TANDTP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
  • - VKSND quận Đồ Sơn;
  • - Lưu: HCTP; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 31/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng V với bà T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger