Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 12-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đình Thủ

2. Ông Phan Quốc Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Phan Thuận H. Sinh ngày: 01/10/2001, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1978 (chết); Con bà: Phan Thị Ngọc T, sinh năm: 1978; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra (có mặt tại phiên tòa).

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1978.

Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Văn N – Văn phòng L2 thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).

* Bị hại: Bùi Thanh T1 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Đặng Thị Kim H2, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Võ Kim L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Phan Hòa T2, sinh năm 1998; Địa chỉ: Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

- Anh Đặng Toàn K, sinh năm 2006; Địa chỉ: Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của Đặng Toàn K là bà Trần Thu S, sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Anh Phạm Vinh S1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).

- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

- Anh Lương Thanh D, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ B, khóm C, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

- Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Phan Thuận H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 15/4/2023, Nguyễn Phan Thuận H không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 66M2- 7421 (xe mô tô do ông Nguyễn Văn H1 cha ruột của H mua lại của ông Võ Kim L nhưng chưa làm thủ tục sang tên) trên đường ĐT 846 hướng từ xã M, thành phố C đi xã T, huyện C. Khi đến địa phận ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, H điều khiển xe mô tô vượt lên xe mô tô biển số 66F1- 790.71 do Bùi Thanh T1, sinh năm 1993, ngụ tổ B, ấp F, xã P, huyện C điều khiển cùng chiều phía trước, làm cho bánh trước và bộ phận giảm xóc bên phải xe mô tô do H điều khiển va chạm vào bộ phận giảm xóc và bánh xe phía trước bên trái do T1 điều khiển làm cho cả hai xe và người té ngã xuống đường. T1 bị thương tích nặng được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố H điều trị đến sáng ngày 16/4/2023 tử vong. Riêng H bị thương tích nhẹ tự điều trị tại nhà.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 94 ngày 25/04/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • Kết quả khám nghiệm:
      • + Bầm tụ máu toàn bộ dưới da đầu.
      • + Hộp sọ nứt vỡ phức tạp, phòi tổ chức não.
      • + Tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng lan tỏa toàn bộ hai bán cầu đại não.
      • + Dập não, xuất huyết não số lượng nhiều.
      • + Phù não bán cầu phải đẩy lệch đường giữa sang trái.
      • + Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không.
      • + Kết quả khác: Không.
  2. Kết luận:
    • - Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng/Tai nạn giao thông.
    • - Kết luận khác: Tử thi chết dưới 24 giờ.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số: 504 ngày 25/12/2003 của Trung tâm P đối với Nguyễn Phan Thuận H:

  1. Kết luận:
    • - Về y học: Trước, trong, sau khi xảy ra va chạm giao thông đường bộ (ngày 15/04/2023) và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Chậm phát triển tâm thần nhẹ (F70- ICD 10) + Động kinh (G40- ICD 10).
    • - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm xảy ra va chạm giao thông đường bộ (ngày 15/04/2023) và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
    • Hiện tại, đương sự không thuộc trường hợp bắt buộc chữa bệnh theo Nghị định 64/2011/NĐ-CP.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 16/4/2023 xác định như sau:

Mặt đường nơi xảy ra vụ tai nạn rộng 6,50 mét, đường bê tông, nhựa, đường thẳng, mặt đường bằng phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, đường khô, không trơn trượt, đường hai chiều có vạch kẻ đường đứt quản chia thành hai phần đường.

Lấy trụ điện số 8 nằm bên ngoài lề trái hướng thành phố C đi cầu T làm điểm mốc cố định.

Chọn mép đường bên phải hướng thành phố C đi cầu T làm mép lề chuẩn.

Tại biên bản dựng lại hiện trường lúc 15 giờ 30 phút ngày 10/04/2024 xác định vùng va chạm có kích thước 0,6x0,6 mét, tâm vùng va chạm vào mép lề chuẩn 2 mét.

Tại kết luận giám định số: 600 ngày 02/06/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

  1. Hệ thống dấu vết mài mòn, trượt xước, vỡ ở ốp bảo vệ giảm xóc trước bên trái, giảm xóc trước bên trái, vành bánh xe trước bên trái má lốp bánh xe trước bên trái của xe mô tô biển số 66F1- 790.71 phù hợp với hệ thống dấu vết mài mòn, trượt xước, vỡ ở chắn bùn bánh trước, ốp bảo vệ giảm xóc trước bên phải, giảm xóc trước bên phải, vành bánh xe trước bên phải, má lốp bánh xe trước bên phải, ốc vít phía trước máy xe của xe mô tô biển số 66M2- 7421.
  2. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 66F1- 790.71 với xe mô tô biển số 66M2- 7421 trên mặt đường là ở phía trước vết cày (ký hiệu số 3) thuộc phần đường bên phải hướng xã M, thành phố C đi xã T, huyện C.

Tại Công văn số: 372 ngày 26/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ xác định: Căn cứ vào dấu vết tại hiện trường, dấu vết trên xe mô tô biển số 66F1- 790.71 và xe mô tô biển số 66M2- 7421 thể hiện trong hồ sơ gửi đến giám định, đủ cơ sở xác định: Quá trình xảy ra va chạm giữa xe mô tô biển số 66F1- 790.71 và xe mô tô biển số 66M2- 7421 ở trạng thái (tư thế) đứng.

Tại Công văn số 440 ngày 04/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ xác định:

  • - Thời điểm va chạm giữa xe mô biển số 66F1- 790.71 và xe mô tô biển số 66M2- 7421 lưu thông cùng chiều theo hướng xã M, thành phố C- xã T, huyện C; xe mô tô biển số 66F1- 790.71 lưu thông phía trước, xe mô tô biển số 66M2- 7421 lưu thông phía sau.
  • - 2 dấu vết cày trên mặt đường ký hiệu số 1 và số 2 có đặc điểm và chiều hướng không phù hợp với chiều hướng di chuyển, dấu vết va chạm, vị trí ngã của xe mô tô biển số 66F1- 790.71 và xe mô tô 66M2- 7421 trong vụ tại nạn giao thông nêu trên.

Từ kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận của Cơ quan chuyên môn xác định lỗi trong vụ tai nạn giao thông là do bị can Nguyễn Phan Thuận H điều khiển cho xe vượt không đảm bảo an toàn (đã vi phạm vào Điều 14 Luật giao thông đường bộ) để xảy ra vụ tai nạn giao thông làm nạn nhân Bùi Thanh T1 tử vong.

Cơ quan điều tra tạm giữ của Bùi Thanh T1 xe mô tô nhãn hiệu Sirius Fi biển số 66F1- 790.71, màu xám đen, số khung 1720KY069815, số máy E3T6E447173; Tạm giữ của Nguyễn Phan Thuận H xe mô tô biển số 66M2- 7421 số máy: VHLFM52FHM- V237858, số khung: RMNWCHEMN8HOO7858.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius Fi biển số 66F1- 790.71, màu xám đen, số khung 1720KY069815, số máy E3T6E447173. Cơ quan điều tra tiến hành trao trả lại cho bà Đặng Thị Kim H2 là mẹ ruột của nạn nhân Bùi Thanh T1.

Quá trình điều tra, bà Đặng Thị Kim H2 là đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu Nguyễn Phan Thuận H bồi thường tiền chi phí điều trị: 8.504.000 đồng, tiền mai táng phí: 66.310.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần: 130.000.000 đồng tiền cấp dưỡng cho bà H2: 100.000.000 đồng. Tổng số tiền 304.814.000 đồng (tính

chẵn 300.000.000 đồng), bị cáo Nguyễn Phan Thuận H thống nhất bồi thường số tiền 300.000.000 đồng, nhưng đến nay vẫn chưa bồi thường.

Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Phan Thuận H không thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, bị cáo cho rằng khi đến địa điểm nơi xảy ra vụ tai nạn, xe mô tô do bị cáo điều khiển cán trúng cục đá ven đường làm xe cùng người té ngã xuống đường. Lúc này, Nguyễn Phan Hòa T2 (anh ruột Thuận H) điều khiển xe mô tô chở bạn tên Đặng Toàn K từ phía sau đến thấy vậy nên kéo xe T để nằm ở lề đường bên phải theo hướng di chuyển, đồng thời chở H đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ, nhưng không nhập viện điều trị thương tích mà tự điều trị thương tích tại nhà. Sau đó, T2K quay lại để lấy xe của H thì thấy hiện trường vụ tai nạn, lời khai của Nguyễn Phan Hòa T2Đặng Toàn K hoàn toàn giống như lời khai Nguyễn Phan Thuận H. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định và Công văn trả lời của Phòng K1 Công an tỉnh Đ có đủ căn cứ xác định vụ tai nạn xảy ra là do bị can Nguyễn Phan Thuận H điều khiển xe mô tô vượt lên đã va quẹt vào xe mô tô do nạn nhân Bùi Thanh T1 điều khiển cùng chiều phía trước. Hậu quả làm Bùi Thanh T1 tử vong.

Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSHCL ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Phan Thuận H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phan Thuận H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phan Thuận H với mức án từ 03 năm đến 04 năm tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và còn là lao động chính trong gia đình.
  • - Về trách nhiệm dân sự và về xử lý vật chứng: Đề nghị như bản Cáo trạng đã nêu.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phan Thuận H phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo H. Đồng thời, người bào chữa còn viện dẫn nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là do bản thân bị cáo thiếu sự tu dưỡng, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện nay hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn về kinh tế, cha của bị cáo vừa chết, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo đang sống một mình, khó khăn về kinh tế xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất.

* Bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Phan Thuận H không thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 18/CT-VKSHCL ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là không đúng với hành vi của bị cáo. Nguyên nhân dẫn đến cái chết của người bị hại không phải do bị cáo gây ra.

Lời khai của bị cáo không hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hiện trường xảy ra vụ tai nạn, kết luận giám định pháp y về tử thi và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo cho rằng khi bị cáo điều khiển xe mô tô khi đến địa điểm nơi xảy ra vụ tai nạn, xe mô tô do bị cáo điều khiển cán trúng cục đá ven đường làm xe cùng người té ngã xuống đường. Lúc này, Nguyễn Phan Hòa T2 (anh ruột Thuận H) điều khiển xe mô tô chở bạn tên Đặng Toàn K từ phía sau đến thấy vậy nên kéo xe T để nằm ở lề đường bên phải theo hướng di chuyển, đồng thời chở H đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ, nhưng không nhập viện điều trị thương tích mà tự điều trị thương tích tại nhà. Sau đó, T2K quay lại để lấy xe của H thì thấy hiện trường vụ tai nạn. Hội đồng xét xử xét thấy, ý kiến trình bày của bị cáo là chưa đủ căn cứ để chấp nhận bởi lẽ: Bị cáo cho rằng xe của bị cáo điều khiển cán trúng viên đá ven đường dẫn đến xe của bị cáo bị té ngã, nhưng theo biên bản truy tìm viên đá vào ngày 16/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thì không tìm thấy viên đá nêu trên; căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện; Tại kết luận giám định số: 600 ngày 02/06/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Hệ thống dấu vết mài mòn, trượt xước bên trái của xe mô tô biển số 66F1- 790.71 phù hợp với hệ thống dấu vết mài mòn, trượt xước bên phải của xe mô tô biển số 66M2- 7421 và vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 66F1- 790.71 với xe mô tô biển số 66M2- 7421 trên mặt đường là ở phía trước vết cày (ký hiệu số 3) thuộc phần đường bên phải hướng xã M, thành phố C đi xã T, huyện C; đồng thời theo Công văn 372 ngày 26/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ xác định: Căn cứ vào dấu vết tại hiện trường, dấu vết trên xe mô tô biển số 66F1- 790.71 và xe mô tô biển số 66M2- 7421 thể hiện trong hồ sơ gửi đến giám định, đủ cơ sở xác định: Quá trình xảy ra va chạm giữa xe mô tô biển số 66F1- 790.71 và xe mô tô biển số 66M2- 7421 ở trạng thái (tư thế) đứng. Từ những phân tích như trên có đủ căn cứ xác định vụ tai nạn xảy ra là do bị cáo Nguyễn Phan Thuận H điều khiển xe mô tô vượt lên đã va quẹt vào xe mô tô do nạn nhân Bùi Thanh T1 điều khiển cùng chiều phía trước, đã vi phạm vào khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ để xảy ra vụ tai nạn giao thông làm nạn nhân Bùi Thanh T1 bị thương nặng dẫn đến tử vong.

[3] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Phan Thuận H đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại Điều 260 khoản 2 điểm a Bộ luật hình sự có quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Làm chết người...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 03 năm đến 10 năm;.

  • Không có giấy phép lái xe theo quy định”;

[4] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Phan Thuận H, khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, tuy hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân bị cáo không được học tập và được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo đã điều khiển xe và không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ. Bị cáo thực hiện hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ đã không chấp hành đúng quy định về đảm bảo an toàn giao thông như điều khiển xe thiếu chú ý quan sát, vượt xe khác đang lưu thông cùng chiều mà không đảm bảo an toàn nên đã gây ra tai nạn giao thông dẫn đến thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho bị hại, đây cũng là nguyên nhân chính gây ra vụ tai nạn giao thông như đã nêu trên.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia giao thông, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Do đó, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành một công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Thuận H không thành khẩn khai báo, không ăn năn hối cải, bị cáo cố tình quanh co chối tội đã gây khó khăn cho quá trình xét xử, giải quyết vụ án.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn thuộc diện hộ cận nghèo và còn là lao động chính trong gia đình nên việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự là không cần thiết.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Phan Thuận H bồi thường tiền chi phí điều trị: 8.504.000 đồng, tiền mai táng phí: 66.310.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần: 130.000.000 đồng tiền cấp dưỡng cho bà H2: 100.000.000 đồng. Tổng số tiền 304.814.000 đồng (tính chẵn 300.000.000 đồng), bị cáo Nguyễn Phan Thuận H thống nhất bồi thường số tiền 300.000.000 đồng. Xét thấy đây là sự tự nguyện giữa đại diện bị hại với bị cáo nên công nhận. Buộc bị cáo Nguyễn Phan Thuận H có trách nhiệm bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 300.000.000 đồng.

[10] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với xe mô tô biển số 66M2- 7421 màu xanh, số máy: VHLFM52FHM- V237858, số khung: RMNCHEMN8HOO7858 không có giấy đăng ký xe mộ tô, xe bị hư hỏng nhiều chỗ do tai nạn giao thông, không kiểm tra chất lượng bên trong xe là tài sản cá nhân của ông Nguyễn Văn H1, nhưng hiện nay ông H1 đã chết nên cần trả lại cho con của ông H1 là anh Nguyễn Phan Hòa T2.
  • (Hiện vật chứng trên chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang tạm quản lý).

[11] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[12] Đối với Nguyễn Phan Hòa T2Đặng Toàn K có hành vi khai báo không đúng sự thật nhằm che giấu hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Phan Thuận H. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.

[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phan Thuận H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Phan Thuận H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Phan Thuận H có trách nhiệm bồi thường cho bà Đặng Thị Kim H2 là đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Giao cho anh Nguyễn Phan Hòa T2 xe mô tô biển số 66M2- 7421 màu xanh, số máy: VHLFM52FHM- V237858, số khung: RMNCHEMN8HOO7858 không có giấy đăng ký xe mộ tô, xe bị hư hỏng nhiều chỗ do tai nạn giao thông, không kiểm tra chất lượng bên trong.
    • (Vật chứng đang được Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự quản lý theo biên bản giao vật chứng ngày 05/6/2024).
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 12 khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Phan Thuận H không phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm do thuộc diện hộ cận nghèo.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - CA huyện Cao Lãnh;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP;
  • - THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Trung Dũng

Thành viên Hội đồng xét xử

(đã ký)

Lê Đình T3 – P

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Huỳnh Trung D1

Để thi hành

Cao Lãnh, ngày 15 tháng 7 năm 2024

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH

Thẩm phán

Huỳnh Trung D1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2024/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã xử:

* Họ và tên: Nguyễn Phan Thuận H. Sinh ngày: 01/10/2001, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1978 (chết); Con bà: Phan Thị Ngọc T, sinh năm: 1978; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1978.

Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Văn N – Văn phòng L2 thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ.

* Bị hại: Bùi Thanh T1 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Đặng Thị Kim H2, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Võ Kim L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phan Thuận H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Phan Thuận H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Phan Thuận H có trách nhiệm bồi thường cho bà Đặng Thị Kim H2 là đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Giao cho anh Nguyễn Phan Hòa T2 xe mô tô biển số 66M2- 7421 màu xanh, số máy: VHLFM52FHM- V237858, số khung: RMNCHEMN8HOO7858 không có giấy đăng ký xe mộ tô, xe bị hư hỏng nhiều chỗ do tai nạn giao thông, không kiểm tra chất lượng bên trong.
    • (Vật chứng đang được Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự quản lý theo biên bản giao vật chứng ngày 05/6/2024).
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 12 khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Phan Thuận H không phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm do thuộc diện hộ cận nghèo.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cao Lãnh, ngày 15 tháng 7 năm 2024

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH

Thẩm phán

Huỳnh Trung D1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VI PHAM GIAO THONG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger