TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày 25-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để
Bà Phạm Thanh Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Văn Đ (tên gọi khác Đ1), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 2/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị T; vợ, con chưa có; tiền án: Ngày 24/4/2019 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 72/2019/HS-HS; tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 24/9/2013 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án số: 37/2013/HSST; ngày 20/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án số: 38/2016/HSST; Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C Công an thành phố H trong vụ án khác (trộm cắp tài sản); có mặt.
Bị hại: Anh Phạm Văn O, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
(Phiên tòa xét xử theo hình thức trực tuyến gồm 2 điểm cầu: điểm cầu trung tâm tại TAND huyện An Minh có mặt những người tiến hành tố tụng, bị
hại; điểm cầu thành phần tại Trại Tạm giam T30 Bộ C có mặt bị cáo Đ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 08/12/2022, tại nhà anh Trần Hoàng P ở ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Phan Văn Đ nhậu cùng anh Phạm Văn O, anh Cao Văn Ú, anh Dương Trí N và anh P, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì Đ nghỉ nhậu đứng dậy ra về trước. Khi đi ra phía trước nhà, Đ nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu HONDA, loại xe Wave màu đỏ - đen biển số 68M1- 497.90 của anh O đang đậu không có người trông coi, nên nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe của anh O đi bán để lấy tiền tiêu xài, Đ quan sát thì thấy anh O và mọi người vẫn còn nhậu trong nhà nên lén lút dẫn chiếc xe của anh O đi một đoạn rồi bứt dây điện, đấu lại khởi động máy rồi điều khiển đến thành phố L, tỉnh An Giang. Tại đây, Đ bán chiếc xe cho một người đàn ông lạ mặt ở công viên được số tiền 6.000.000 đồng, rồi bỏ trốn đến thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 03/6/2023, Phan Văn Đ tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị phòng C1 Công an thành phố H bắt và tạm giam cho đến nay.
Làm việc với Cơ quan điều tra, Phan Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản, là chiếc xe mô tô hiệu HONDA, loại xe Wave màu đỏ - đen biển số 68M1 497.90 của anh Phạm Văn O.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐG ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận: 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, biển số 68M1-497.90, màu đỏ - đen -bạc, số khung RLHJA392XNY242276, số máy JA39E2739266, có giá trị là 22.425.000 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng của vụ án là 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, biển số 68M1-497.90, màu đỏ - đen- bạc, số khung RLHJA392XNY242276, số máy JA39E2739266, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Phạm Văn O yêu cầu bị can Phan Văn Đ bồi thường chiếc xe bị mất với số tiền 19.000.000 đồng, hiện tại bị can Đ chưa bồi thường.
Tại Cáo trạng số 71/CT-VKS-AM ngày 16-9-2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Phan Văn Đũ về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Phan Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; về trách nhiệm dân sự đề nghị xem xét xử lý theo quy định.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu. Về trách nhiệm dân sự đồng ý bồi thường. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị hại: về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường tài sản; về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý nghiêm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 08/12/2022 tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Phan Văn Đ đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, biển số 68M1-497.90, màu đỏ - đen - bạc, số khung RLHJA392XNY242276, số máy JA39E2739266, theo kết luận định giá có giá trị là 22.425.000 đồng.
[2.2] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm tội nhưng bị cáo vẫn thực hiện, nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý; bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt bằng việc lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị theo kết luận định giá là 22.425.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Phan Văn Đ phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Ngày 24/4/2019 bị cáo Đ bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 72/2019/HS-HS, chưa được xóa án tích thì đến ngày 08/12/2022 lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây bức xúc trong dư luận và hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, HĐXX xác định đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo đã liên tiếp phạm tội, gây tâm lý lo lắng, phẩn nộ trong nhân dân nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo có 1 tình tiết tăng nặng, có nhân thân xấu và hiện đang bị khởi tố, điều tra về tội trộm cắp tài sản nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc mới đủ răn đe.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại anh O không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xét.
[5] Về án phí, bị cáo Phan Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Đ (Đủ) phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn Đ (Đủ) 02 (hai) năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
2- Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh O không yêu cầu nên không xét.
3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Toà án, bị cáo Phan Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5- Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25-4-2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản
