Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-ST

Ngày 24 - 8 - 2023

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Thái Quân
  2. Ông Lê Văn Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết là Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 15/8/2004, tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật giáo H6; trình độ học vấn: lớp 07/12; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1985 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1986; anh, em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ hai. Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống chung với gia đình, học lớp 07 nghỉ, làm thuê phụ giúp gia đình. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo T bị tạm giam kể từ ngày 25/3/2023 cho đến nay tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện P; có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi liên quan: Trương Thanh T2, sinh năm 2002 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lâm Văn T3, sinh năm 2002 (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn Tuấn A, sinh năm 1997(vắng mặt)
  3. Ông Nguyễn Tấn P1, sinh năm 2003 (vắng mặt)
  4. Ông Trần Văn B, sinh năm 2005 (vắng mặt)
  5. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1988 (vắng mặt)
  6. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1999 (vắng mặt)
  7. Ông Lâm Văn H1, sinh năm 1955 (vắng mặt)
  8. Bà Phạm Thị M, sinh năm 1974 (có mặt)
  9. Ông Trần Văn P2, sinh năm 1978 (vắng mặt)
  10. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  11. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 (có mặt)
  12. Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1958 (vắng mặt)
  13. Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1956 (có mặt)
  14. Bà Lê Thị Lệ H2, sinh năm 1981 (có mặt)
  15. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1949(vắng mặt)
  16. Ông Nguyễn Văn P3, sinh năm 1989(vắng mặt)
  17. Ông Nguyễn Tấn H3, sinh năm 2002(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 25/12/2021, Lâm Văn T3 và Nguyễn Văn Tuấn A cùng uống rượu chung với Nguyễn Thanh P, sinh ngày 01/01/1990, ngụ ấp P, xã P và Nguyễn Văn T5 (T6), sinh năm 1999, ngụ ấp P, xã P tại quán “C" thuộc ấp P, xã P. Trong lúc uống rượu, giữa T3 và P xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến hai bên T3 và Tuấn A đánh nhau với T5 và P được Nguyễn Văn P3 (chủ quán) can ngăn. Hai bên nhặt gạch ống ném nhau. Sau đó, T3 điện thoại kêu Trần Văn B đến tiếp đánh nhau với T5 và P. B đồng ý và điện thoại nói lại cho Nguyễn Văn T biết đến tiếp. T đồng ý. Trước khi đi, T rủ thêm Nguyễn Tấn P1 và Trương Thanh T2 cùng đi theo. Tạo điều khiển xe gắn máy, nhãn hiệu DAELIMKREA, màu sơn trắng, biển số 67AK - 097.24 (xe của T2) chở B, còn P1 điều khiển xe gắn máy biển số 67AK - 063.66 chở T2 chạy đến nơi T3 đang đánh nhau. Khoảng 10 phút sau, T, B, P1, T2 và T3 gặp nhau. Lúc này, T5 và P tiếp tục nhặt gạch ống ném trúng vào nhóm bên của T3 đang đứng làm nhóm của T3 bỏ chạy. Trong lúc bỏ chạy, T3 nhặt đoạn gỗ kích thước (59 x 3,6 x 4,6) cm, trên đoạn gỗ có đính nhiều cây đinh nhô ra làm hung khí. T5 cầm viên gạch ống đập phá và giật ống lọc xăng xe gắn máy biển số 67AK - 097.24 của Thanh T2 làm hư hỏng xe. T5 và P định lấy xe mô tô biển số 61H5 - 4626 để chạy về nhưng do hết xăng nên P điện thoại cho anh ruột của P là Nguyễn Văn T4, sinh năm 1988 đến để rước P và T5. Lúc này, T3, B, Tuấn A, T, P1 và Thanh T2 gặp nhau tại khu vực đường nhựa tại quán cà phê “C”. T3 kêu cả nhóm “chờ P và T5 ra”. Thời điểm này, B, Tuấn A và T nghe được T3 nói, còn P1 và Thanh T2 không nghe. Sau đó, Tuấn A đến nơi dựng xe mô tô của mình lấy cây vũ ba khúc và nhặt 01 đoạn gỗ tràm tròn, dài khoảng 01 mét trên đường, bẻ gãy thành 02 đoạn. Tuấn A đưa cho P1 01 đoạn gỗ tràm, đưa cho B cây vũ ba khúc, còn mình cầm đoạn gỗ tràm, riêng T3 cầm đoạn gỗ có đính đinh đã nhặt trước đó, T nhặt khúc gỗ tre làm hung khí. Tất cả đi bộ trên đường theo hướng xã P - xã P. Trên đường đi, T3 tiếp tục điện thoại cho Nguyễn Tấn H3, sinh ngày 07/02/2002, ngụ ấp P, xã P đến địa điểm nêu trên để cùng đánh nhau với nhóm của P.

Cùng lúc này, P và T5 mỗi người nhặt 01 viên gạch, lấy áo bọc lại làm hung khí để đánh nhau. Nguyễn Văn T4 điều khiển xe mô tô biển số 67M6 - 2183 chở T5 ngồi sau, dùng chân đẩy xe mô tô biển số 61H5 - 4626 do P điều khiển từ quán “Cầy Tơ” ra đường giao thông liên xã P - P. Trên đường đi, cả ba gặp lại nhóm của T3. Lúc này, T5 và P xuống xe, cầm áo có bọc viên gạch bên trong chạy về hướng nhóm của T3 để đánh nhau. Thấy vậy, Thanh T2 bỏ chạy về hướng xã P, còn T3, Tuấn A, B, T và P1 xông đến để đánh nhau với P và T5. Tuấn A cầm đoạn gỗ tràm đánh nhau với T5 nhưng cả hai không bị thương tích. T3 cầm đoạn gỗ có đính nhiều đinh đánh nhau với P. Buôi, T và P1 thì đứng sau lưng của T3 để chờ cơ hội đánh P. Trong lúc đánh nhau, Phong cầm áo có bọc viên gạch đánh trúng vào vai trái của T3, còn T3 cầm đoạn gỗ đánh trúng vai trái của P. Trong lúc đánh nhau, P để áo có bọc viên gạch rời khỏi tay. Lúc này, T3 cầm đoạn gỗ trên tay phải tiếp tục đánh trúng mắt trái, má phải của P làm P ngã xuống đường. T3 tiếp tục cầm đoạn gỗ đánh từ trên xuống trúng vào vùng lưng bên trái của P. Cùng lúc, P cũng nhặt được viên gạch ném trúng vào mặt bên trái của T3. Lúc này, Văn T4 chạy đến tri hô nên T3, B, T, P1 và Tuấn A bỏ chạy về hướng xã P. Sau đó, Văn T4 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở P ngồi sau, dùng chân đẩy xe mô tô biển số 61H5 - 4626 do T5 điều khiển chạy về hướng xã P. Khi xe chạy được khoảng 100 mét thì gặp Nguyễn Tuấn H4 điều khiển xe mô tô biển số 67K1 - 877.36 chở Nguyễn Hữu K1, sinh năm 2004, ngụ ấp P, xã P cầm theo cây rựa và N2 (chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể) đến. H4 hỏi có phải là T3 không. Sợ bị đánh nên Văn T4 kêu T5 bỏ xe chạy bộ, còn mình điều khiển xe chở P về nhà. Trong lúc T5 bỏ lại xe mô tô biển số 61H5 - 4626 để chạy trốn, K1 cầm rựa, B cầm cây vũ ba khúc, P1 cầm đoạn gỗ tràm đập gây hư hỏng xe rồi sau đó cả nhóm bỏ đi về.

* Bản Kết luận Giám định pháp y về thương tích số 28/22/TgT ngày 19/01/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh A ghi nhận thương tích của Nguyễn Thanh P như sau:

  • Chấn thương mắt trái: vỡ nhãn cầu, đã phẩu thuật khâu củng mạc; thị lực mắt trái - ST (-), mắt phải 10/10. Tỷ lệ thương tật 43%.
  • Sẹo má phải, kích thước (03 x 0,2) cm, tỷ lệ thương tật 03%.
  • Sẹo lưng trái, kích thước (01 x 06) cm, tỷ lệ thương tật 01%.
  • Sây sát bả vai trái không thương tích tồn tại, tỷ lệ thương tật 00%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 45%; thương tích do vật tày có cạnh và bề mặt không bằng phẳng (lồi - lõm) gây nên.

* Bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG.TTHS ngày 06/01/2022 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: giá trị phần hư hỏng của xe mô tô biển số 61H5 - 4626 là 900.000 đồng; giá trị phần tài sản hư hỏng của xe mô tô biển số 67AK - 097.24 là 300.000 đồng.

Căn cứ Bản Kết luận giám định số 2828/KLGĐĐT, ngày 27/4/2023 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh, kết luận: Qua quá trình khám lâm sàn và kết quả cận lâm sàn xác định tại thời điểm cần giám định (4/2023), Nguyễn Văn T có thể chất và hệ răng xương đã phát triển như người trưởng thành, không đủ cơ sở khoa học kết luận chính xác độ tuổi của Nguyễn Văn T.

Tuy khai sinh của Nguyễn Văn T trễ hạn nhưng căn cứ vào lời khai của Nguyễn Thị S1, Lê Thị Lệ H2 và Trần Văn K2, việc T sinh vào ngày 15/8/2004 là có căn cứ.

* Bị hại Nguyễn Thanh P trình bày phù hợp với nội dung của vụ án. Qua vụ việc nêu trên, P đã nhận tiền bồi thường từ người thân của các bị can Tuấn A, B, T3 và P1 với tổng số tiền là 75.000.000 đồng (người thân của Tuấn A là 35.000.000 đồng; người thân của B là 5.000.000 đồng, người thân của T3 là 30.000.000 đồng, người thân của P1 là 5.000.000 đồng). Qua đó, P đã tự nguyện làm đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với T3, Tuấn A, B và P1.

* Lời khai của người làm chứng

- Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T5, Trương Thị Tường D, Lê Trọng T7, Lâm Văn H1, Phạm Thị M, Trần Văn P2, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị N, Phạm Thị N1, Nguyễn Văn P3, Nguyễn Tấn H3, Nguyễn Hữu K1, Trương Thanh T2, Lâm Văn T3, Nguyễn Văn Tuấn A, Nguyễn Tấn P1, Trần Văn B trình bày phù hợp với nội dung vụ án

- Nguyễn Thị S1 trình bày: Tạo là cháu N3 của S1, do lớn tuổi S1 không nhớ rõ ngày tháng năm sinh của T nhưng S1 biết Tạo tuổi T8.

- Lê Thị Lệ H2 trình bày: H2 là vợ của cậu ruột T. Vào ngày 22/6/2004 (âm lịch) nhằm ngày 07/8/2004 (dương lịch), H2 có sinh Trần Thị Diệu H5. Sau đó hơn 01 tháng, Trần Thị T1 là mẹ ruột của T cùng với T về ở chung nhà. Lúc này, T khoảng 01 tháng tuổi.

- Nguyễn Văn K Trình bày: Khi là ông nội của T. Mẹ của T là Trần Thị T1 sinh T vào năm 2004, T tuổi T8, sinh vào mùa nước nổi. Đến khi T được 02 tuổi, cha và mẹ của T ly hôn, T về sống bên ngoại.

* Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện đã tạm giữ và trả lại cho Nguyễn Văn T5 01 xe mô tô biển số 61H5 - 4626; cho Trương Thanh T2 01 gắn máy biển số 67AK - 097.24 cùng 01 mãnh vỡ bằng nhựa màu trắng và 01 ống lọc xăng; chuyển cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính về hành vi huỷ hoại tài sản, gồm: 01 cây rựa (cán gỗ tròn 12 cm, dài 51,8 cm, phần lưỡi kim loại dài 33,5 cm, nơi rộng nhất của phần lưỡi là 6,5 cm, nơi hẹp nhất của phần lưỡi là 1,6 cm, mũi bằng, một lưỡi sắc).

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện đã tạm giữ 01 cây gậy vũ ba khúc đoạn lớn nhất dài 24 cm, hoành 09 cm, đoạn giữa dài 20 cm, hoành 5,5 cm, đoạn nhỏ nhất dài 19 cm, hoành 4,3 cm, độ dài thu vào 24 cm, độ dài thu ra 63 cm; 01 đoạn gỗ kích thước (59 x 3,6 x 4,6) cm, thân gỗ có nhiều cây đinh bằng kim loại nhô ra; nhiều mãnh vỡ của gạch ống; nhiều mãnh vở bằng nhựa màu xanh. Tại bản án số 53/2022/HS-ST ngày 28/12/2022 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân đã tịch thu tiêu huỷ các vật chứng nêu trên.

* Phần trách nhiệm dân sự

Bị hại Nguyễn Thanh P đã nhận được số tiền 75.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm.

Cáo trạng số: 27/CT-VKS-PT ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phú Tân để xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Xét thấy người có quyền lợi liên quan, người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của những người này phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như các biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu lập các ngày 26 và 27/12/2021 và các biên bản khám nghiệm hiện trường lập cùng ngày 28/12/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Kết luận giám định pháp y về thương tích số 28/22/TgT ngày 19/01/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG.TTHS ngày 06/01/2022 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P.

Căn cứ vào các chứng cứ vừa nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn T cùng với Lâm Văn T3, Nguyễn Văn Tuấn A, Trần Văn B, Nguyễn Tấn P1 thực hiện hành vi cùng tham gia đánh nhau với nhóm của Nguyễn Thanh P, Nguyễn Văn T5 và Nguyễn Văn T4. Trong đó, T3 có hành vi dùng đoạn gỗ có gắn nhiều cây đinh nhô ra đánh trúng vào mắt trái, vùng má phải và vùng lưng bên trái của P gây thương tích 45%. Tạo có hành vi có hành vi giúp sức về mặt tinh thần cho T3 thực hiện hành vi nêu trên. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố đối với bị Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[2.2] Tính chất vụ án, mức độ của hành vi phạm tội:

Sức khoẻ của con người là vốn quý của xã hội, nó là một trong những đối tượng được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đều phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T là người dưới 18 tuổi, nhưng có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, biết rõ việc gây thương tích cho người khác sẽ là tội phạm. Tạo và P không có mâu thuẫn nhưng khi B rủ đi đánh nhau T đã đồng ý. Tạo chuẫn bị công cụ phạm tội, giúp sức cho T3 gây thương tích cho P. Hành vi của bị cáo T là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ gây thiệt hại sức khỏe của P mà nó còn làm mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo T một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo một thời gian nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo và nêu gương răn đe giáo dục, phòng ngừa chung xã hội.

Các bị cáo T3, Tuấn A, B, P1, T cùng đánh P gây thương tích, không có phân công vai trò của từng người nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này, T3 là người chủ mưu. Tuấn A, B, P1 và T có vai trò giúp sức, tính chất, mức độ hành vi ngang nhau nên phải chịu hình phạt như nhau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã xét xử các bị cáo T3, Tuấn A, B, P1 tại Bản án số 53/2022/HS-ST ngày 28/12/2022.

[2.3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo

[3] Về các biện pháp tư pháp:

[3.1] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Bị hại Nguyễn Thanh P đã nhận tiền bồi thường 75.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo T bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[3.2] Xử lý vật chứng: Bản án số 53/2022/HS-ST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đa xử xong vật chứng.

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ Điều 259; Điều 260; Điều 268; Điều 269 và Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 25/3/2023.

2. Về án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Lý Thị Rỡ

Nơi nhận:

  • Bị cáo (4);
  • Đương sự (5);
  • TAND tỉnh An Giang (1);
  • VKSND tỉnh An Giang (1);
  • VKSND huyện Phú Tân(1);
  • Nhà tạm giữ, THAHS CA HPT (2);
  • Bộ phận THA Tòa án (1);
  • Chi cục THADS huyện Phú Tân(2);
  • Phòng hồ sơ Công an tỉnh AG (1);
  • Sở Tư Pháp tỉnh AG (1);
  • Lưu hồ sơ Tòa án (1);
  • Lưu VT (1).
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2023/HS-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 31/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger