|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/DS-ST Ngày: 24/7/2024 V/v: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Tuấn Đạt và bà Lê Thị Tuyết Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
Địa chỉ: Tòa nhà S, Số A Đường P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khánh H – chức vụ: Giám đốc xử lý nợ hỗn hợp miền nam (Theo Giấy ủy quyền đề số 064323.24 ký ngày 01/4/2024 của Tổng giám đốc Ngân hàng V1).
Đại diện theo ủy quyền của ông H:
- Ông Tạ Công T – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q
- Ông Võ Hoàng Đăng D – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q
- Ông Nguyễn Ngọc Đ – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q
- Ông K' Jacly – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q
Cùng địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P- số B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bị đơn:
1/ Ông Võ Tấn Đ1, sinh năm 1981.
Nơi đăng ký hộ khẩu: Tổ 3, Ấp 7, xã Phú Thịnh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở: Số 568/6 Lê Văn Việt, phường Long Thạnh Mỹ, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Bà Võ Kiều L – sinh năm 1991
Nơi đăng ký hộ khẩu: Ấp Lung Môn, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở: Số 568/6 Lê Văn Việt, phường Long Thạnh Mỹ, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
(Ông K' Jacly có mặt; ông Đ1, bà L có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 29/5/2018, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (viết tắt là Ngân hàng) cho vợ chồng ông Võ Tấn Đ1 và bà Võ Kiều L vay số tiền 390.000.000₫ (Ba trăm chín mươi triệu) theo hợp đồng tín dụng số 0509.HĐTD-VIB638.18 ngày 29/5/2018. Thời hạn vay là 84 tháng, kể từ ngày 31/5/2018 đến ngày 30/5/2025. Lãi suất cho vay là 8,99%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Trong quá trình vay ông Đ1, bà L có thế chấp cho Ngân hàng 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI ACCENT, biển số 60A-485.37, loại xe ô tô con theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0509.HĐTC-VIB638.18 ngày 29/5/2018.
Ngoài ra, Ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019 cho ông Đ1 với hạn mức tín dụng là 39.000.000 đồng (Ba mươi chín triệu đồng); loại thẻ VIB Happy Drive, mục đích vay tiêu dùng, lại suất vay theo quy định của VIB theo thời kỳ.
Hiện nay, ông Đ1 và bà L đã trả được cho Ngân hàng số tiền 235.494.848 đồng, trong đó tiền gốc là 143.933.000 đồng, tiền lãi 91.561.848 đồng. Do ông Đ1, bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng chuyển sang lãi quá hạn từ ngày 25/01/2021.
Tính đến ngày 24/7/2024, ông Đ1 và bà L còn nợ Ngân hàng số tiền vay là 439.194.788 đồng (trong đó nợ gốc 246.067.000 đồng, nợ lãi 193.126.788 đồng) và dư nợ thẻ tín dụng 105.523.018 đồng (trong đó nợ gốc 32.279.829 đồng, nợ lãi 17.101.304 đồng, nợ phí 56.141.885 đồng). Tổng cộng là 544.716.806 đồng.
Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện yêu cầu ông Võ Tấn Đ1 và bà Võ Kiều L phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q 544.716.806 đồng, trong đó nợ gốc 246.067.000 đồng, nợ lãi 193.126.788 đồng và dư nợ thẻ tín dụng 105.523.018 đồng tính đến ngày 24/7/2024.
Kể từ ngày 25/7/2024, ông Võ Tấn Đ1 và bà Võ Kiều L phải tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng số 0509.HĐTD-VIB638.18 ngày 29/5/2018 và Giấy đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc (Mức lãi suất được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q).
Đối với Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0509.HĐTC-VIB638.18 ngày 29/5/2018 thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử bị đơn ông Võ Tấn Đ1 và bà Võ Kiều L trình bày:
Ông Đ1, bà L thừa nhận có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 390.000.000₫ (Ba trăm chín mươi triệu) theo hợp đồng tín dụng số 0509.HĐTD-VIB638.18 ngày 29/5/2018. Thời hạn vay là 84 tháng, kể từ ngày 31/5/2018 đến ngày 30/5/2025. Lãi suất cho vay là 8,99%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn. Sau khi ký hợp đồng phía ông Đ1, bà L đã được Ngân hàng giải ngân và nhận đủ tiền vốn vay theo Đơn “Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ” ngày 30/5/2018. Ông Đ1, bà L có thế chấp cho Ngân hàng 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI ACCENT, biển số 60A-485.37, loại xe ô tô con theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0509.HĐTC-VIB638.18 ngày 29/5/2018.
Ngoài ra, ông Đ1 còn mở 01 Thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức tín dụng là 39.000.000 đồng (Ba mươi chín triệu đồng) theo Giấy đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019.
Trong quá thực hiện nghĩa vụ, ông Đ1, bà L đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 235.494.848 đồng, trong đó tiền gốc là 143.933.000 đồng, tiền lãi 91.561.848 đồng. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên từ ngày 25/01/2021 ông Đ1, bà L không tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện yêu cầu ông Võ Tấn Đ1 và bà Võ Kiều L phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q 544.716.806 đồng, trong đó nợ gốc 246.067.000 đồng, nợ lãi 193.126.788 đồng và dư nợ thẻ tín dụng 105.523.018 đồng tính đến ngày 24/7/2024 thì ông bà cũng đồng ý chấp nhận trả tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo quy định, tuy nhiên ông bà xin được trả dần.
Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho bị đơn và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.
Quá trình giải quyết vụ án, đại diện các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn ông Đ1, bà L không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không giao nộp, bổ sung tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện là có căn cứ, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 246.067.000 đồng, nợ lãi theo quy định tính đến thời điểm xét xử ngày 24/7/2024 và dư nợ tín dụng 105.523.018 đồng; đồng thời còn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận cho đến khi trả xong số tiền còn nợ.
Đối với Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0509.HĐTC-VIB638.18 ngày 29/5/2018 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Võ Tấn Đ1 có nơi cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về tư cách tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện ông Võ Tấn Đ1, bà Võ Kiều L trên cơ sở hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q là người khởi kiện ông Đ1, bà L nên xác định tư cách đương sự Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q là nguyên đơn và ông Đ1, bà L là bị đơn. Tư cách đương sự được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 149 của Bộ luật dân sự năm 2015 do đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện nên Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với vụ án.
- - Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, bị đơn có đơn giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Yêu cầu ông Võ Tấn Đ1 và bà Võ Kiều L phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 544.716.806 đồng, trong đó nợ gốc 246.067.000 đồng, nợ lãi 193.126.788 đồng và dư nợ thẻ tín dụng là 105.523.018 đồng tính đến ngày 24/7/2024; đồng thời còn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận cho đến khi trả xong số tiền còn nợ.
[2.1] Về hình thức của Hợp đồng tín dụng số 0509.HĐTD-VIB638.18 ngày 29/5/2018 (viết tắt Hợp đồng tín dụng) giữa Ngân hàng Q và ông Võ Tấn Đ1, bà Võ Kiều L và Giấy đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019 của ông Võ Tấn Đ1:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q là tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng và các quy định khác của pháp luật và được phép cấp tín dụng tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng.
Tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng ngày 29/5/2018, ông Võ Tấn Đ1, bà Võ Kiều L đã cung cấp các giấy tờ tùy thân, ký tên vào hợp đồng tín dụng từ đó thể hiện việc ký kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện và người ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
Ông Đ1 đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019 thì đã được Ngân hàng cung cấp đầy đủ thông tin, đã đọc, hiểu rõ và chấp nhận toàn bộ nội dung của bản điều khoản, điều kiện mở, sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ tại Ngân hàng, biểu phí dịch vụ thẻ của ngân hàng P với quy định của Pháp luật, được niêm yết, thông báo công khai và đã được cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng.
Do đó, hợp đồng tín dụng ngày 29/5/2018 và hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019 đã ký kết đảm bảo về mặt hình thức và có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 398, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.
[2.2]. Về thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 0509.HĐTD-VIB638.18 ngày 29/5/2018, đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, Giấy đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019, bảng kê tính lãi và các chứng cứ khác có trong vụ án có cơ sở xác định ông Võ Tấn Đ1, bà Võ Kiều L có ký kết hợp đồng tín dụng ngày 29/5/2018 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q để vay số tiền 390.000.000đ và mở 01 Thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức tín dụng là 39.000.000 đồng.
Ông Đ1, bà L đã được Ngân hàng giải ngân số tiền 390.000.000₫ (Ba trăm chín mươi triệu) thể hiện trong đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 30/5/2018. Trong quá thực hiện nghĩa vụ, ông Đ1 và bà L đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 235.494.848 đồng, trong đó tiền gốc là 143.933.000 đồng, tiền lãi 91.561.848 đồng. Từ ngày 25/01/2021, ông Đ1, bà L vi phạm nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 246.067.000 đồng và Ngân hàng đã chuyển toàn bộ sang nợ quá hạn và khởi kiện; Đối với số dư nợ thẻ tín dụng là 105.523.018 đồng (trong đó nợ gốc 32.279.829 đồng, nợ lãi 17.101.304 đồng, nợ phí 56.141.885 đồng) là có căn cứ theo thỏa thuận giữa các bên và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 91, Điều 93, khoản 3 Điều 95 và Điều 98 của Luật các Tổ chức Tín dụng.
[2.3]. Về yêu cầu trả nợ gốc: Ông Đ1, bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã được các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng ngày 29/5/2018, đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 30/5/2018 và Giấy đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Đ1, bà L có nghĩa vụ trả nợ gốc 246.067.000 đồng của hợp đồng tín dụng ngày 29/5/2018 và dư nợ thẻ tín dụng với nợ gốc 32.279.829 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 351; Điều 357; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
[2.4]. Về yêu cầu trả tiền lãi: Số tiền lãi mà Ngân hàng yêu cầu ông Đ1, bà L phải trả được tính dựa vào sự thỏa thuận giữa các bên của hợp đồng tín dụng ngày 29/5/2018 và Giấy đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019 thỏa thuận này phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng.
Từ ngày 25/01/2021, ông Đ1, bà L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc ông Đ1, bà L có nghĩa vụ trả số tiền nợ lãi 193.126.788 đồng của hợp đồng tín dụng ngày 29/5/2018 và nợ lãi 17.101.304 đồng, nợ phí 56.141.885 đồng của Giấy đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019 tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/7/2024) là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5]. Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc yêu cầu ông Đ1, bà L tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 24/7/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng ngày 29/5/2018 và Giấy đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận của các bên nên có cơ sở để chấp nhận.
[2.6]. Để đảm bảo khoản vay 390.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng ngày 29/5/2018, ông Đ1, bà L có thế chấp cho Ngân hàng 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI ACCENT, biển số 60A-485.37, loại xe ô tô con theo hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số theo số 0509.HĐTC-VIB638.18 ngày 29/5/2018, Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Nếu có tranh chấp sẽ dành quyền khởi kiện vụ án khác.
[3] Bị đơn không có yêu cầu phản tố.
[4] Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Ông Đ1, bà L phải chịu (20.000.000 đồng + 4% x 144.716.806 đồng) = 25.788.672 đồng, làm tròn là 25.789.000 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 10.959.000 đồng (Mười triệu chín trăm năm mươi chín nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0003113 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[6] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 351, Điều 357, Điều 385, Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- - Khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;
- - Khoản 2 Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
- - Điều 7, Điều 8, Điều 10 và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với ông Võ Tấn Đ1 và bà Võ Kiều L về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc ông Võ Tấn Đ1 và bà Võ Kiều L phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 544.716.806 đồng (Năm trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm mười sáu nghìn tám trăm lẻ sáu đồng), trong đó nợ gốc 246.067.000 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng), nợ lãi 193.126.788 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu một trăm hai mươi sáu nghìn bảy trăm tám mươi tám đồng) và dư nợ thẻ tín dụng 105.523.018 đồng (Một trăm lẻ năm triệu năm trăm hai mươi ba nghìn không trăm mười tám đồng) tính đến ngày xét xử 24/7/2024.
- Kể từ ngày 25/7/2024, ông Võ Tấn Đ1 và bà Võ Kiều L chưa thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì ông Đ1, bà L còn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0509.HĐTD-VIB638.18 ngày 29/5/2018, Giấy đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 07/3/2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc (Mức lãi suất được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q).
- Về án phí: Ông Võ Tấn Đ1 và bà Võ Kiều L phải chịu số tiền 25.789.000 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 10.959.000 đồng (Mười triệu chín trăm năm mươi chín nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0003113 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đ1 và bà L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nam |
Bản án số 31/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 31/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VIB - ĐẠT
