TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 24 – 5 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kim Trung Dũng
Bà Nguyễn Minh Trực
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Duy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:
- Nguyễn Thị M, sinh ngày 18/01/1997; nơi sinh: V, Hậu Giang; nơi cư trú: khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng. Trình độ học vấn: 09/12. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ú (chết), con bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1971 (sống); chồng Ngô Hoàng K, sinh năm 1991; con 02 người (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2022); A, em ruột: 01 người (bị can).
- Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 31/10/2023, bị Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã đóng phạt xong).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Bị hại: Bà Huỳnh Thị Diễm C, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: khu vực 2, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
1
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Chương Hoàng L.
Nơi cư trú: khu vực 3, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/10/2023, Công an phường V, thành phố V tiếp nhận tin báo của bà Huỳnh Thị Diễm C (sinh năm 1989) chủ tiệm S thuộc khu V, phường V, thành phố V. Trình báo vào khoảng 11 giờ 10 phút, ngày 20/9/2023 tại của hàng bà bị mất 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, dung lượng 64Gb, màu đen. Qua xác minh được đối tương lấy trộm tài sản là Nguyễn Thị M, sinh ngày 18/01/1997, địa chỉ thường trú: khu vực 2, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
Vật chứng vụ án: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, dung lượng 64Gb (đã qua sử dụng) không thu hồi được. Do cửa hàng thu mua đã bán lại cho khách hàng khác, không rõ tên họ, địa chỉ ở đâu. (BL 05-06, 48).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 60 ngày 02/11/2023 của Hội đồng thẩm định – UBND thành phố V, xác định: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, dung lượng 64Gb, màu đen (đã qua sử dụng) là 4.599.000 đồng (bốn triệu năm trăm chín mươi chín nghìn đồng) (BL 24).
- Trong quá trình điều tra: Bị cáo Nguyễn Thị M đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Chúc yêu cầu bị cáo M bồi thường tài sản mất trộm theo quy định.
- Tại Bản Cáo trạng số: 23/CT-VKS-TPVT ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về “Tội Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Đối với Chương Hoàng L (chủ tiệm Đ) đã mua 01 điện thoại di động Iphone X, màu đen, dung lượng 64Gb do Nguyễn Thị M bán, L không biết điện thoại di động do M thực hiện hành vi trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về vật chứng: không xem xét.
2
- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Chúc không tiếp tục yêu cầu bị cáo M bồi thường thiệt hại, nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo M phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Phát biểu bào chữa và lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị M: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái và bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại Chúc trình bày: Về trách nhiệm dân sự, do bị cáo M cũng có khó khăn kinh tế nên không tiếp tục yêu cầu bồi thường. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định nội dung diễn biến sự việc:
[1]. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời thừa nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố. Nên có cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 20/9/2023, tại tiệm S thuộc khu V, phường V, thành phố V, Nguyễn Thị M đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, dung lượng 64Gb, màu đen của Huỳnh Thị Diễm C. Theo kết luận định giá của cơ quan chuyên môn, giá trị tài sản bị cáo M chiếm đoạt có giá trị là 4.599.000 đồng (bốn triệu năm trăm chín mươi chín nghìn đồng).
Xét, bị cáo M là người có đủ năng lực hành vi và nhận thức được việc lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện; giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt đã đủ định lượng cấu thành tội “trộm cắp tài sản” và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nên Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh truy tố là đúng người, đúng tội.
[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo M phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng sự sơ hở, không cảnh giác của chủ sở hữu, người quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của người khác; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại
3
phiên tòa, bị cáo M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, bị cáo M đang phải nuôi con nhỏ dưới 36 tháng, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
[6] Về tiền án: Không; Tiền sự: Không.
[7] Về nhân thân: Ngoài lần phạm tội này bị cáo M chưa có tiền án, tiền sự nào trước đã được xóa. Tuy nhiên, sau khi bị cáo lấy tài sản của bị hại Chúc vào ngày 20/9/2023, đến ngày 26/9/2023 bị cáo lại tiếp tục lấy tài sản (điện thoại) của người khác tại ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang và bị Chủ tịch UBND thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 31/10/2023 số tiền 2.000.000 đồng. Như vậy, cho thấy thái độ chấp hành chính sách pháp luật của bị cáo tại địa phương là kém. Hiện nay, bị cáo M đang có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi và không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
Từ những phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bị cáo M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng. Nhưng thái độ chấp hành chính sách pháp luật của bị cáo tại địa phương là không có, sau khi phạm tội lại tiếp tục lấy tài sản của người khác đã gây mất an ninh chính trị tại địa phương, do đó cần cách ly bị cáo khỏi cộng đồng một thời gian. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết khi lượng hình để bị cáo có cơ hội cải tạo sớm trở về để nuôi con nhỏ, nên mức đề nghị 06 (sáu) tháng tù của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Chúc không tiếp tục yêu cầu bị cáo M bồi thường thiệt hại, nên không xem xét giải quyết.
[9]. Về vật chứng: Không xem xét giải quyết.
[10]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo M không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[11]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo M phải nộp 200.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
4
3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
4. Về tang vật chứng: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị M nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị M và bị hại Huỳnh Thị Diễm C có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Chương Hoàng L vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết, tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương |
5
6
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang về hình sự sơ thẩm (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
