TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 31/2024/DS-ST
Ngày 24 tháng 5 năm 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Thế Hanh
2. Ông Lê Văn Đô
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Kim Chi- Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ông Vi Đăng Khoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 334/2023/TLST- DSST ngày 13/12/2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 46/2024/QÐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng T1 (A)
Địa chỉ: số D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P, chức vụ: tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T, chức vụ: Giám đốc xử lý nợ
Người được ủy quyền lại: Bà Mai Thị Mỹ H- nhân viên xử lý nợ(có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Sinh H1, sinh năm 1997(vắng mặt)
Địa chỉ: TDP V, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề 09/10/2023, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T1 (A) do bà Mai Thị Mỹ H trình bày:
A cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Sinh H1 căn cứ theo: giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của ông Nguyễn Sinh H1 ký ngày 21/9/2022; Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A; Các văn bản khác của ông H1 ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng. Cụ thể: ngày 21/9/2022, A cấp thẻ tín dụng cho ông H1, loại thẻ Visa Gold (thẻ tín dụng quốc tế), hạn mức thẻ: 50.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 32%, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng, ông H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với A. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn thì ngày 09/6/2023, A đã chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với toàn bộ khoản thẻ chưa thanh toán. Dư nợ tính đến ngày 24/5/2024: vốn gốc 49.622.044 đồng; lãi trong hạn 6.864.262; lãi quá hạn 22.774.479đồng đồng. Tổng cộng 79.260.785 đồng.
Nay A đề nghị Tòa án: buộc ông Nguyễn Sinh H1 trả ngay cho A số nợ còn thiếu tính đến ngày 24/5/2024 là 79.260.785đồng. Ông Nguyễn Sinh H1 còn phải tiếp tục trả lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kể từ ngày 25/5/2024 đến ngày trả hết nợ.
Bị đơn anh Nguyễn Sinh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến trình bày gửi Tòa án về yêu cầu khởi kiện của A đối với anh.
Tòa án lập biên bản xác minh tại gia đình anh H1, có bà Trần Thị L, sinh năm 1975 là mẹ đẻ anh H1 cung cấp: Anh H1 hiện đi làm ăn xa không có mặt ở nhà. Các văn bản do Tòa án giao bà đã giao cho anh H1 khi anh H1 về nhà, anh H1 biết việc A khởi kiện nhưng anh H1 bận công việc lại đi nên không lên Tòa án làm việc được.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 357 Bộ luật dân sự, Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A.
Buộc anh Nguyễn Sinh H1 phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng A số tiền dư nợ tính đến ngày 24/5/2024: vốn gốc 49.622.044 đồng; lãi trong hạn 6.864.262; lãi quá hạn 22.774.479đồng đồng. Tổng cộng 79.260.785 đồng.
Ông Nguyễn Sinh H1 còn phải tiếp tục trả lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kể từ ngày 25/5/2024 đến ngày trả hết nợ.
Về án phí: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: anh Nguyễn Sinh H1 phải chịu án phí DSST: 3.963.000đồng.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là 1.583.764 đồng cho A theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0003652 ngày 13/12/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Anh H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án là có căn cứ.
[2]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Tòa án xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh H1 đang sinh sống tại huyện H nên Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 35; khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của ngân hàng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, lời khai của đại diện Ngân hàng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định:
Ngày 21/9/2022, ông Nguyễn Sinh H1 đã ký hợp đồng phát hành thẻ tín dụng với số tiền 50.000.000 đồng với ngân hàng A với lãi suất trong hạn là 32%, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của A. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với A. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn thì ngày 09/6/2023, A đã chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với toàn bộ khoản thẻ chưa thanh toán. Đến nay ông H1 chưa thanh toán được số tiền gốc và lãi cho A nên A đề nghị Tòa án: buộc ông Nguyễn Sinh H1 trả ngay cho A số nợ còn thiếu tính đến ngày 24/5/2024 là 79.260.785đồng. Ông Nguyễn Sinh H1 còn phải tiếp tục trả lãi, phạt chậm trả lãi
phát sinh theo mức lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kể từ ngày 25/5/2024 đến ngày trả hết nợ là có căn cứ cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 357 Bộ luật dân sự, Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A.
Buộc anh Nguyễn Sinh H1 phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng A số tiền dư nợ tính đến ngày 24/5/2024: vốn gốc 49.622.044 đồng; lãi trong hạn 6.864.262; lãi quá hạn 22.774.479đồng đồng. Tổng cộng 79.260.785 đồng.
Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (25/5/2024) ông Nguyễn Sinh H1 còn phải tiếp tục trả lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đến ngày trả hết nợ.
Về án phí: anh Nguyễn Sinh H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là : 3.963.000đồng.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là 1.583.764 đồng cho A theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0003652 ngày 13/12/2023
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9- Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đào Thị Oanh |
Bản án số 31/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 31/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng T - Nguyễn Sinh H1
