Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số:13/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 4 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Hương, Phó chủ tịch Liên đoàn lao động huyện Tuyên Hóa.
  2. Bà Bùi Thị Kim Nhung, Phó Bí thư Huyện đoàn Tuyên Hóa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Quang, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2024/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Đức H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04/5/1990, tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Hiếu N (chết) và bà Phạm Thị B, sinh năm 1952; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng chưa có lần nào vi phạm pháp luật; bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 01/12/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Hồ Sỹ D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/5/2006, tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Tính đến ngày phạm tội, bị cáo mới 17 tuổi 4 tháng 10 ngày).

Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; con ông Hồ Viết P, sinh năm 1981 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1978; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/01/2024, bị Công an thị xã B ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 01/12/2023, đến ngày 29/01/2024, bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, sau đó điều chuyển đến tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Theo Lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hồ Sỹ D: Ông Hồ Viết P, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng trị, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Sỹ D: Bà Lê Hoàng A, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Mai Văn C, sinh năm 1980.

Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, có mặt;

- Người làm chứng:

+ Anh Trần Trung N1, sinh năm 2003.

Nơi cư trú: Thôn B T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;

+ Anh Cao Xuân Q, sinh năm 2004.

Nơi cư trú: Thôn B T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;

+ Anh Cao Hồng Q1, sinh năm 1988.

Nơi cư trú: Thôn B T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;

+ Anh Cao Hồng Đ, sinh năm 1997.

Nơi cư trú: Thôn B T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt mặt,

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do mâu thuẫn tình ái giữa Trần Đức H, sinh năm 1990, trú tại thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình và Cao Hồng Đ, sinh năm 1997 trú tại thôn B T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, đã sử dụng mạng xã hội và điện thoại để đe dọa, thách thức lẫn nhau. Đến khoảng 21 giờ, ngày 30/9/2023, Trần Đức H mang theo 01 khẩu súng hơi đã tháo rời các bộ phận, cùng đạn (loại đạn chì), rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu Đen - Vàng - Xám, biển kiểm soát 73K1 - 085.34 đến rủ Hồ Sỹ D, sinh năm 2006 (cháu ruột của H) trú cùng thôn, đi đến xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, tìm Cao Hồng Đ để giải quyết mâu thuẫn, D đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe chở theo D đi đến đến thôn B T, xã T, huyện T. Khi đến khu vực sân bóng chuyền gần nhà của Cao Hồng Đ, H dừng xe, lắp các bộ phận của súng và 01 (một) viên đạn, rồi điều khiển xe mô tô chạy qua nhà Đ một đoạn thì dừng lại. H giao xe mô tô cho D điều khiển, còn H đi bộ đến trước cổng nhà của Đ bắn 01 (một) phát hướng vào phía trong nhà của Đ. Khi nghe tiếng súng nổ nhóm thanh niên gồm: Trần Trung N1, sinh năm 2003, Cao Xuân Q, sinh năm 2004 và Cao Hồng Đ, sinh năm 1997 cùng trú tại xã T, huyện T, đang ngồi chơi tại nhà anh Cao Hồng Q1, sinh năm 1984 tại thôn B, T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (bên cạnh nhà của Cao Hồng Đ) liền chạy ra ngoài đường để xem ai bắn. Thấy đông người đi ra, H tiếp tục dùng súng bắn chỉ thiên thêm một phát nữa, rồi ngồi lên xe mô tô do D điều khiển bỏ chạy, trên đường đi H tiếp tục lắp 01 (một) viên đạn vào súng. Do trời tối và không quen đường D chạy nhầm đường, nên H đưa súng cho Dương c, còn H điều khiển xe mô tô chạy về hướng xã Đ. Khi Cao Hồng Q1 điều khiển xe mô tô chở Đ, N1, Q đuổi theo vượt lên phía trước xe mô tô của H và dừng lại ở bên lề đường bên phải để chặn lại, thì H nói D dùng súng bắn 01 (một) phát hướng về phía xe mô tô của những người nói trên và trúng vào vùng trên, sau cánh tay trái của anh Trần Trung N1 gây bầm tím, rồi cả hai tiếp tục điều khiển xe chạy tẩu thoát.

Tại bản kết luận giám định thương tích số 156/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 05/10/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Q kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Trung N1 tại thời điểm giám định là: 01% (một phần trăm). Vật gây thương tích: Thương tích nêu trên là do vật tày gây ra. Tính chất thương tích: Thương tích nêu trên không gây nguy hiểm cho tính mạng.

Tại Bản kết luận giám định số: 967/KL-KTHS ngày 30/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật cần giám định ký hiệu A1 là súng hơi, cỡ nòng 5,5mm (súng bắn bằng áp suất khí nén từ bình khí). Mẫu cần giám định A2 là đạn chì hình nấm cỡ 5,5mm, sử dụng để bắn cho súng hơi cỡ nòng 5,5mm và các loại súng khác có cấu tạo và cỡ nòng phù hợp. Các mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 đều thuộc súng săn. Mẫu cần giám định ký hiệu A2 là do khẩu súng cần giám định ký hiệu A1 bắn ra. Trong tầm bắn 20 mét, đạn bắn ra từ khẩu súng cần giám định ký hiệu A1 (bình khí của súng đã được nạp đủ khí) vào cơ thể có thể gây sát thương.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, dữ liệu điện tử:

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ: Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 73K1 - 085.34; Một hộp giấy đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q và các chữ ký của những người có liên quan: Bên trong có một khẩu súng màu đen dài 106,5cm; một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30S; một phong bì thư, mặt trước ghi nội dung “mẫu cần giám định ký hiệu A2 trong kết luận giám định số: 967/KL - KTHS ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Q” niêm phong bằng chữ ký của những người có liên quan và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong có 01 hộp nhựa có chứa 01 viên kim loại màu xám. (Tất cả có đặc điểm như mô tả như Phiếu nhập kho vật chứng lập ngày 02/12/2023).

Ngày 16/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, loại: Sirius; màu: Đen- Xám - Vàng; Biển kiểm soát: 73K1 - 085.34 cho chủ sở hữu là anh Mai Văn C.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình của Trần Đức H và Hồ Sỹ D đã bồi thường thiệt hại cho Trần Trung N1 số tiền: 2.000.000 đồng, anh Trần Trung N1 đã nhận đủ, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản Cáo trạng số 09/CT-VKSTH-HS ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa truy tố các bị cáo Trần Đức H và Hồ Sỹ D về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đức H từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/12/2023; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 và Điều 38, Điều 54, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Sỹ D từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng màu đen dài 106,5 cm kèm theo 01 hộp giấy đã được niêm phong và 01 viên kim loại màu xanh; trả lại cho bị cáo Trần Đức H một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30S do không sử dụng vào việc phạm tội; đối với 01 USB, đây là dữ liệu điện tử cần tiếp tục bảo toàn nguyên vẹn, lưu trữ trong hồ sơ vụ án (tất cả có đặc điểm như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/3/2024 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa). Về án phí, các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Hồ Sỹ D:

Nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa cũng như lợi luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo D có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, trong quá trình học tập có nhiều thành tích được Nhà trường tặng Giấy khen, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự để cho bị cáo Hồ Sỹ D hưởng mức án nhẹ nhất.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Đức H và Hồ Sỹ D đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản xác định hiện trường vụ án, sơ đồ hiện trường vụ án, bản ảnh vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/9/2023, Trần Đức H là người đã thành niên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự rủ rê Hồ Sỹ D người chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi dùng súng hơi bắn 03 phát vào nơi công cộng và trên đường tẩu thoát, gây huyên náo, mất an ninh trật tự nghiêm trọng tại thôn B T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự chung, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về vai trò, tính chất đồng phạm, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Trần Đức H là người rủ rê, xúi giục Hồ Sỹ D thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Bị cáo Hồ Sỹ D là đồng phạm với vai trò là người giúp sức tích cực cho bị cáo H. Khi H rủ rê D cùng đi, mặc dù biết đây là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn đồng ý, tích cực giúp sức cho bị cáo H thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng. Vụ án có 02 bị cáo tham gia, tuy nhiên trước khi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò, vị trí cho nhau, vì vậy tính chất đồng phạm chỉ mang tính giản đơn.

Hành vi gây rối trật tự công cộng của các bị cáo đã thực hiện trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn công cộng, đến các quy tắc sinh hoạt nơi cộng cộng. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây hoang mang lo lắng và ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của người dân sinh sống trên địa bàn.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H biết rõ Hồ Sỹ D là người chưa đủ 18 tuổi nhưng vẫn xúi giục Hồ Sỹ D thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng cùng mình. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Hồ Sỹ D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Đối với bị cáo H: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải; trước khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng chưa có lần nào vi phạm pháp luật. Do đó, HĐXX qua thảo luận, đánh giá quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.

Đối với bị cáo D: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải; trong quá trình học tập có nhiều thành tích được Nhà trường tặng Giấy khen. Do đó, HĐXX qua thảo luận, đánh giá quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo. Trước khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng bị cáo chưa có lần nào vi phạm pháp luật, tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cáo thực hiện hành vi “Mua bán trái pháp chất ma túy” bị Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can. Do đó, bị cáo có nhân thân không tốt.

[6] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Xét thấy

Bị cáo H là người giữ vai trò chính, có 01 tình tiết tăng nặng, 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá đúng với vai trò, tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nên cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe, giúp bị cáo cải tạo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo Hồ Sỹ D, tại thời điểm phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 4 tháng 10 ngày, vì vậy sự nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chưa đầy đủ, nên cần áp dụng những quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 91 và Điều 101 của Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng, dữ liệu điện tử: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ một số vật chứng, thu thập dữ liệu điện tử. Qua xem xét, Hội đồng xét xử quyết định xử lý số vật chứng này như sau:

[7.1]. Đối với một khẩu súng màu đen dài 106,5cm và 01 viên kim loại màu xám là đạn chì hình nấm do khẩu súng màu đen dài 106,5cm bắn ra là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7.2]. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30S cùng 01 thẻ sim, đây là tài sản của bị cáo Trần Đức H không sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7.3]. Đối với 01 USB Drive 32 GB nhãn hiệu VIVAN bên trong chứa file âm thanh nội dung cuộc gọi giữa H và Cao Hồng Đ, đây là dữ liệu điện tử được cơ quan cảnh sát Điều tra thu thập nên cần tiếp tục bảo toàn nguyên vẹn và lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí: Các bị cáo H và D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Các vấn đề khác:

Ngoài hành vi gây rối trật tự công cộng, H và D còn có hành vi dùng súng hơi bắn gây thương tích cho anh Trần Trung N1 với tỷ lệ thương tích 01%. Hành vi của H và D đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tuy nhiên bị hại Trần Trung N1 đã có đơn rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xử không xem xét.

Trong quá trình giải quyết vụ án, H và D có tác động gia đình bồi thường cho Trần Trung N1 2.000.000 đồng do hành vi dùng súng hơi bắn gây thương tích. Tuy nhiên tình tiết bồi thường này không thuộc phạm vi giải quyết trong vụ án “Gây rối trật tự công cộng” nên HĐXX không xem xét.

Đối với việc xác định nguồn gốc khẩu súng hơi, bị cáo H khai mua trên mạng xã hội, H không nhớ đã mua của ai do thời gian quá lâu nên không có cơ sở để xử lý người bán khẩu súng cho H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 (đối với bị cáo H); điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 91, Điều 101 (đối với bị cáo D); điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án (đối với cả hai bị cáo).

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Đức HHồ Sỹ D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Đức H 31 (Ba mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 01/12/2023.

    Quyết định tạm giam bị cáo Trần Đức H 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/4/2024 để đảm bảo thi hành án (có Quyết định tạm giam riêng).

  3. Xử phạt bị cáo Hồ Sỹ D 18 ( mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  4. Xử lý vật chứng, dự liệu điện tử:
    • - Tịch thu, tiêu hủy một khẩu súng màu đen dài 106,5 cm đựng trong một hộp giấy đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q và các chữ ký của những người có liên quan;
    • - Tịch thu, tiêu hủy 01 viên kim loại màu xám đựng trong một phong bì thư, mặt trước ghi nội dung “mẫu cần giám định ký hiệu A2 trong kết luận giám định số: 967/KL - KTHS ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Q” niêm phong bằng chữ ký của những người có liên quan và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q;
    • - Trả lại cho bị cáo Trần Đức H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30S cùng 01 thẻ sim.

      (Tất cả các vật chứng có số lượng, đặc điểm như mô tả tại Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 11/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa).

    • - Tiếp tục bảo toàn nguyên vẹn, lưu trữ theo hồ sơ vụ án 01 USB Drive 32 GB nhãn hiệu VIVAN.
  5. Án phí: Các bị cáo Trần Đức HHồ Sỹ D phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/4/2024) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Q.Bình;
  • - VKSND tỉnh Q.Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Q.Bình;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người bào chữa
  • - Lưu VP; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về gây rối trật tự công cộng (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 13/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đức H phạm tội Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger