Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 24/4/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên .

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Vi Văn L, sinh năm 1985; tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 09/12; con ông: Vi Văn N, sinh năm 1951 và con bà Hoàng Thị T, sinh năm 1953; vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1986 (đã ly hôn) và có 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2015; gia đình bị có có 07 anh em, bị cáo là thứ sáu; Tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 105/QĐ-XPHC ngày 08/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện T phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành nộp phạt ngày 24/8/2023. Tại Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 02/QĐ-UBND ngày 04/01/2024 của Chủ tịch UBND xã Q, huyện T đối với Vi Văn L, thời gian cai nghiện từ 05/01/2024 đến ngày 05/7/2024. Ngày 23/01/2024 Trung tâm y tế huyện T xác nhận Vi Văn L hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thời gian từ ngày 09/01/2024 đến ngày 23/01/2024;

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2019/HSST ngày 21/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt Vi Văn L 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2019, buộc bồi thường cho anh Đỗ Văn T1 3.500.000 đồng, chấp hành xong phần bồi thường dân sự ngày 01/11/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2020.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang “có mặt tại phiên tòa”.

  • - Người bào chữa cho bị cáo Vi Văn L:

Bà Nguyễn Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B; địa chỉ: Số F, đường L, phường D, thành phố B “có mặt tại phiên toà”.

  • - Bị hại: Chị Đoàn Thị D, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn B, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang “có đơn xét xử vắng mặt”.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn B, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt tại phiên toà”.

  • - Người làm chứng:

Anh Giáp Thanh T3 “vắng mặt tại phiên toà”.

Anh Nguyễn Xuân H2 “vắng mặt tại phiên toà”.

  • - Người chứng kiến: Ông Giáp Văn T4 “vắng mặt tại phiên toà”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 26/02/2024, Vi Văn L, sinh năm 1985 trú tại thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1-438.94 từ nhà đến chợ V, xã S, huyện T mục đích đi chợ và tìm hiệu thuốc để mua xi lanh và nước cất về khi nào có ma túy để sử dụng. Khoảng 08 giờ 20 phút, L đi đến quầy thuốc “Dân Tuân” của gia đình chị Đoàn Thị D, sinh năm 1976 ở thôn B, xã S, huyện T, L dựng xe ở ngoài cửa quầy thuốc, sau đó đẩy cửa kính đi vào trong khu vực quầy thuốc nhìn thấy không có người nên L gọi “chị ơi” nhưng không thấy có ai trả lời, L đi ra ngoài cửa hiệu thuốc đợi khoảng 2 phút không thấy ai ra bán thuốc. L quan sát thấy xung quanh và trong nhà không có ai, lúc này L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền ăn tiêu. L liền mở cửa kính đi thẳng vào phía sau tủ thuốc, L thấy đỉnh chiếc két sắt kê ở góc tường bên trái từ ngoài vào có 01 (một) hộp kim loại dạng hình trụ tròn (loại đựng hộp bánh kẹo) không có nắp, bên trong để nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau, L dùng tay phải vơ một nắm tiền rồi đi ra cửa, nhưng khi đi đến giữa quầy thuốc thì thấy anh Giáp Thanh T3, sinh năm 1980 ở thôn B, xã S, huyện T mở cửa đi vào. L nghĩ là anh T3 đã phát hiện việc L trộm cắp nên L đã thả những tờ tiền đang cầm trên tay phải xuống nền nhà định đi ra ngoài cửa. Thấy L thả tiền anh T3 nghi ngờ L trộm cắp nên anh T3 hỏi “Mày làm cái gì” Long trả lời “em chót dại, em xin anh”, cùng lúc đó có anh Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1980 ở thôn V, xã Y, huyện L là bạn của anh T3) đi vào quầy thuốc, thấy L thừa nhận trộm cắp tiền của gia đình chị D nên anh t và anh H2 giữ L lại. Sau đó anh T3 gọi điện thoại thông báo cho chị D biết sự việc và đồng thời trình báo Công an xã S, huyện T đến lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Vi Văn L. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:

  • - T5 trên nền nhà số tiền 1.832.000₫, trong đó có:
  • 06 (sáu) tờ tiền mệnh giá: 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
  • 07 (bảy) tờ tiền mệnh giá: 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).
  • 27 (hai mươi bảy) tờ tiền mệnh giá: 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng).
  • 21 (Hai mươi một) tờ tiền mệnh giá: 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).
  • 15 (Mười năm) tờ tiền mệnh giá: 5.000 đồng (Năm nghìn đồng);
  • 10 (Mười) tờ tiền mệnh giá: 2.000 đồng (Hai nghìn đồng).
  • 37 (Ba mươi bảy) tờ tiền mệnh giá: 1000 đồng (Một nghìn đồng).

Toàn bộ số tiền được niêm phong trong phong bì thư dán kín có chữ ký của những người liên quan và dấu của Công an xã S, huyện T.

  • -Thu giữ của Vi Văn L 01 chiếc xe mô tô dán nhãn YAMAHA SIRIUS RC xe đã qua sử dụng có nhiều xước xát, màu team của xe: vàng, đen, xe mô tô có 02 gương chiếu hậu, chiếc xe mô tô được gắn biển số 98D1-438.94.

Cùng ngày 26/02/2024, Công an xã S, huyện T đã tiến hành thu giữ của chị Đoàn Thị D 01 hộp bằng kim loại hình trụ tròn, mặt ngoài có in hình hoa văn, đường kính 26,5cm; cao 8,5cm được để trong túi nilon buộc chặt 2 đầu, tại đầu buộc được dán giấy niêm phong và có chữ ký của những người tham gia và dấu tròn của Công an xã S.

Ngay sau khi bắt quả tang Công an xã S, huyện T xác định có dấu hiệu tội phạm nên đã bàn giao tài liệu cùng đối tượng Vi Văn L cho Cơ quan điều tra Công an huyện T. Cơ quan điều tra đã tiến hành test nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Vi Văn L, kết quả L dương tính với ma túy.

Cùng ngày 26/02/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T thu giữ của Vi Văn L: 01 chiếc quần bò màu xanh; 01 chiếc áo khoác gió màu xanh bộ đội; 01 chiếc áo mưa màu xanh, có mũ; 01 đôi giầy vải (dạng giầy lười) màu xanh được niêm phong trong hộp bìa cát tông.

Quá trình điều tra Vi Văn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, đồng thời L khai khoảng 20 giờ ngày 25/02/2024, L có mua 200.000 đồng ma túy Heroine của một người đàn ông L không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực đoạn đường bờ sông thuộc địa phận thôn H, xã S, huyện T rồi xuống cánh đồng gần đó sử dụng một mình hết.

Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe mô tô dán nhãn YAMAHA SIRIUS RC biển kiểm soát 98D1-438.94 là tài sản của Vi Văn L, ngày 02/02/2024 Vi Văn L đã ký gửi đăng ký và xe mô tô tại Công ty cổ phần K để vay số tiền 3,329.000 đồng, sau đó L được công ty cổ phần K cho mượn lại chiếc xe mô tô để làm phương tiện đi lại, chiếc xe mô tô này L không sử dụng vào việc phạm tội.

Đối với số tiền 1.832.000 đồng là tiền của vợ chồng chị Đoàn Thị D nên ngày 21/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền trên cho vợ chồng chị D quản lý, sử dụng.

01 hộp bằng kim loại hình trụ tròn, mặt ngoài có in hình hoa văn, đường kính 26,5cm; cao 8,5cm là hộp sắt của gia đình chị D đựng tiền.

01 chiếc quần bò màu xanh; 01 chiếc áo khoác gió màu xanh bộ đội; 01 chiếc áo mưa màu xanh, có mũ; 01 đôi giầy vải (dạng giầy lười) màu xanh là quần áo của Vi Văn L mặc khi vào gia đình chị D trộm cắp tài sản.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho L vào tối ngày 25/02/2024 tại khu vực thôn H, xã S, huyện T, do L không biết, tên, tuổi địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ đối tượng bán ma túy cho L là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xác minh làm rõ đối với người bán ma túy này.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L ngày 25/02/2024, ngày 21/3/2024 Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Đoàn Thị D đã được Cơ quan điều tra trả lại số tiền 1.832.000 đồng, đến nay chị D không có yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường thiệt hại.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 02/QĐ- VKS, ngày 11/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố Vi Văn L về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện VKSND huyện Tân Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Vi Văn L từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/02/2024, về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí.

Bị cáo L: Bị cáo không tranh luận gì.

Bà H1 trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo L tranh luận: Bà H1 nhất trí về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, vật chứng và án phí. Tuy nhiên về hình phạt, bà H1 xác định động cơ, mục đích của bị cáo không ý định đi trộm cắp từ trước, một phần lỗi thuộc về bị hại, nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 26/02/2024.

Ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên: Bị cáo L là người có 03 nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính lại tiếp tục phạm tội, do vậy đề Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như luận tội đối với bị cáo.

Bị cáo L: Bị cáo không tranh luận gì.

Bà H1: Giữ nguyên ý kiến và không tranh luận gì thêm.

Bị cáo L nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, chứng kiến đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên họ vắng mặt, xét thấy quá trình giải quyết vụ án, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đối với vụ án này, bị cáo Vi Văn L bị bắt quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nên Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã ra quyết định xét xử theo thủ tục rút gọn theo Điều 462 của Bộ luật tố tụng hình sự. Thành phần Hội đồng xét xử do một thẩm phán tiến hành và không tiến hành nghị án theo Điều 463 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà, bị cáo có mặt đã hoàn toàn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như quyết định truy tố đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản kiểm tra hành chính, vật chứng thu giữ được, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ do Cơ quan điều tra thu thập về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 08 giờ 20 phút ngày 16/02/2024, bị cáo Vi Văn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1-438.94 đi từ nhà bị cáo đi đến quầy thuốc “Dân Tuân” của gia đình chị Đoàn Thị D, tại thôn B, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bị cáo quan sát thấy xung quanh và trong nhà không có ai, bị cáo có trộm cắp số tiền 1.832.000 đồng. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 105/QĐ-XPHC ngày 08/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện T phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành nộp phạt ngày 24/8/2023. Mặc dù số tiền trộm cắp dưới 2.000.000đ, nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Từ những phân tích nêu trên, xác định bị cáo Vi Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo L đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Bị cáo L thuộc hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[6] Về các vấn đề khác:

  • - Đối với người đàn ông bán ma túy cho L vào tối ngày 25/02/2024 tại khu vực thôn H, xã S, huyện T, do L không biết, tên, tuổi địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ đối tượng bán ma túy cho L là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xác minh làm rõ đối với người bán ma túy này, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
  • Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L ngày 25/02/2024, ngày 21/3/2024 Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
  • Về trách nhiệm dân sự: Chị Đoàn Thị D đã được Cơ quan điều tra trả lại số tiền 1.832.000 đồng, đến nay chị D không có yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường thiệt hại, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

  • - 01 chiếc xe mô tô dán nhãn YAMAHA loại xe SỈIUS xe màu vàng, đen, biển kiểm soát 98D1-438.94 không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
  • - 01 hộp kim bằng kim loại hình trụ tròn, mặt ngoài có in hoa văn, kích thước: đường kính 26,5cm, cao 8,5cm được để trong túi nilon buộc chặt 2 đầu, tại đầu buộc được dán giấy niêm phong và có chữ ký của những người tham gia và dấu tròn của Công an xã S, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho chị Đoàn Thị D.
  • - 01 chiếc quần bò màu xanh, 01 chiếc áo khoác gió mầu xanh bộ đội, 01 áo mưa mầu xanh, đen có mũ, 01 đôi giầy vải (dạng giầy lười) mầu xanh được niêm phong trong hộp bìa cát tông, không liên quan phạm tội, bị cáo không xin lại, nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Bị cáo L thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
  2. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Bị cáo Vi Văn L 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/02/2024, về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo L.

  1. Về vật chứng:
  • - Trả lại bị cáo Vi Văn L 01 chiếc xe mô tô dán nhãn YAMAHA loại xe SỈIUS xe màu vàng, đen, biển kiểm soát 98D1-438.94,
  • - Trả lại chị Đoàn Thị D 01 hộp kim bằng kim loại hình trụ tròn, mặt ngoài có in hoa văn, kích thước: đường kính 26,5cm, cao 8,5cm được để trong túi nilon buộc chặt 2 đầu, tại đầu buộc được dán giấy niêm phong và có chữ ký của những người tham gia và dấu tròn của Công an xã S.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc quần bò màu xanh, 01 chiếc áo khoác gió mầu xanh bộ đội, 01 áo mưa mầu xanh, đen có mũ, 01 đôi giầy vải (dạng giầy lười) mầu xanh được niêm phong trong hộp bìa cát tông.
  1. Về án phí: Bị cáo Vi Văn L được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - Công an huyện Tân Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vi Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi Văn Long - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger