Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHƯỚC LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST

Ngày 23 – 10 – 2023

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

giữa bà Nguyễn Thị H và ông Hoàng Công H1"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ánh Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Lâm
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 109/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXX – ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST – HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1986. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • * Bị đơn: Ông Hoàng Công H1, sinh năm: 1982. Vắng mặt.

Cùng trú tại: Khu phố 9, phường P, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/8/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà H trình bày:

Bà H và ông H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào ngày 21/12/2006. Vợ chồng chung sống hạnh phúc 13 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do từ năm 2019 đến nay ông H1 không chí thú làm ăn lại đam mê cờ bạc nên gây cảnh nợ nần từ đó vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Dù bà H nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông H1 không chịu sửa đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H1.

Quá trình chung sống, bà H ông H1 có ba con chung tên Hoàng Thị Thuỳ L sinh ngày 07/01/2008, Hoàng Thị Thảo V sinh ngày 25/02/2017, Hoàng Công V1 sinh ngày 04/01/2019. Nguyện vọng bà H khi ly hôn bà được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hoàng Công H1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do nên không có ý kiến trình bày của ông H1.

Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
  • - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 53, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn Hoàng Công H1, đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại khu phố 9, phường P, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước nên Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà H và ông H1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào ngày 21/12/2006. Do vậy, hôn nhân giữa bà H và ông H1 là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng; Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại nơi đương sự cư trú thì có phản ánh là nguyên đơn bị đơn có mâu thuẫn cãi vã nhưng không yêu cầu Ban chấp hành khu phố hòa giải nên không rõ mâu thuẫn như thế nào. Mặt khác, bị đơn biết nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn, được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến tham gia các buổi làm việc cũng như hòa giải. Từ những nhận định trên, xét thấy mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

[2.2] Về con chung:

Xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của nguyên đơn, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, bà H trình bày bà và ông H1 đều kinh doanh mua bán nông sản (hạt điều) nhưng không làm chung với nhau nên bà H không rõ thu nhập của ông H1. Trong thời gian chung sống, ông H1 có đưa tiền cho bà trang trải sinh hoạt nhưng không thường xuyên vì phụ thuộc vào công việc của ông H1 nhưng bà H vẫn đảm bảo tốt việc chăm sóc, nuôi dưỡng và các quyền, lợi ích hợp pháp cho các con chung. Đồng thời, cháu L có nguyện vọng được ở với mẹ, các cháu V, Việt còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của bà H; giao các con chung Hoàng Thị Thuỳ L sinh ngày 07/01/2008, Hoàng Thị Thảo V sinh ngày 25/02/2017 và Hoàng Công V1 sinh ngày 04/01/2019 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung thành niên đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị đơn ông H1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:

bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí:

Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm của Kiểm sát viên:

là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí - lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:
  2. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Hoàng Công H1.

  3. Về con chung:
  4. Giao con chung Hoàng Thị Thuỳ L sinh ngày 07/01/2008, Hoàng Thị Thảo V sinh ngày 25/02/2017 và Hoàng Công V1 sinh ngày 04/01/2019 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu L, V, V1 đủ 18 tuổi.

    Ông Hoàng Công H1 không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi người có yêu cầu được quy định tại Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án có thể thay đổi về việc cấp dưỡng.

  5. Về tài sản chung và nợ chung:
  6. Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

  7. Về án phí:
  8. Bà H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình không có giá ngạch, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà H đã nộp theo Biên lai thu số 0008xxx ngày 08/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. Phần án phí bà H đã thi hành xong,

  9. Về quyền kháng cáo:
  10. Nguyên đơn có mặt, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án 23/10/2023.

    Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Phước Long;
  • - Chi cục THADS thị xã Phước Long;
  • - UBND xã V, huyện Gio L, tỉnh Quảng Trị (số 37, ngày 21/12/2006)
  • - Các Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Trần Ánh Nguyệt

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Lâm

Nguyễn Thị Ngọc Mai

Nguyễn Trần Ánh Nguyệt

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2023/HNGĐ-ST ngày 23/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 31/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa nguyên đơn Nguyển Thị H và bị đơn Hoàng Công H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger