Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GÒ CÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Duy Hùng;
  2. Ông Phạm Đăng Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Đàm Viễn Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Thanh T (N), sinh năm 1987 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: số E H, khu phố D, phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị A; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: không; nhân thân:

  • + Bản án số: 51/2013/HSST ngày 19/12/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 19/12/2014, đã được xóa án tích;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/02/2024, tạm giam từ ngày 24/02/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Gò Công, tỉnh tiền G, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Anh Trần Hoàng C1, sinh năm 1996;

Nơi cư trú: số A N, Khu phố I, phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; (xin vắng mặt)

* Người làm chứng:

Ông Lê Hoàng T1, sinh năm 1960;

Nơi cư trú: khu phố D, phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 15 tháng 02 năm 2024, Bùi Thanh T đi bộ từ nhà đến đường N rồi rẽ vào đường M để tìm chỗ vắng vẻ sử dụng ma túy là H. Khi đi ngang nhà của bà Hoàng Thị T2 tại Khu phố D, Phường C, thành phố G, T quan sát thấy trên bàn bên trong nhà có để 01 điện thoại di động loại “Iphone 12 Promax” mà không có người trông coi, thì nảy sinh ý định lấy trộm. T tiến vào vị trí để điện thoại, lén lút lấy điện thoại cầm trên tay rồi bước ra phía ngoài, T bỏ điện thoại vào túi quần rồi quay trở về nhà. Điện thoại di động này là của anh Trần Hoàng C1 con của bà T2 để trên bàn rồi đi vệ sinh. Qua công tác truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố G xác định được Bùi Thanh T là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên tiến hành biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với T.

Tại thời điểm Cơ quan điều tra thi hành lệnh giữ người thì T đang cầm sử dụng điện thoại đã lấy trộm ngay tại nhà của T. Đồng thời, kết quả kiểm tra trên người T, Cơ quan điều tra còn phát hiện trong túi quần bên phải phía trước T đang mặc có 01 đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong có chất bột màu trắng, theo lời trình bày của T thì đây là Heroine, nên Cơ quan điều tra lập biên bản thu giữ các vật chứng sau:

  • 01 điện thoại di động loại “Iphone 12 Promax”, số IMEI 1: 354419335391482, số IMEI 2: 354419335532945.
  • 01 đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong có chất bột màu trắng, nghi là ma túy, được cho vào một bì thư niêm phong được dán kín, trên bì thư có chữ ký của Bùi Thanh T và người chứng kiến.
  • 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia 130”, loại bàn phím, màu đen, số IMEI 1: 354192104190415, số IMEI 2: 354192104690414.

Theo Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐGTS ngày 19/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G (Nay là thành phố G) đối với tài sản mà Bùi Thanh T đã chiếm đoạt như sau:

01 điện thoại di động loại “Iphone 12 Promax 128Gb”, số IMEI 1: 354419335391482, số IMEI 2: 354419335532945 trị giá 10.700.000 đồng.

Theo Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 09 tháng 3 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận đối với chất nghi ma túy thu giữ của Bùi Thanh T như sau:

Các mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1028 gam, loại Heroine (H).

Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKSTPGC ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Bùi Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.

  1. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Tịch thu tiêu hủy: Ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,0870 gam, được niêm phong trong một bì thư ký hiệu vụ số 38 đề ngày 09 tháng 03 năm 2024; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng.
  • - Trả lại cho bị cáo Bùi Thanh T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia 130”, loại bàn phím, màu đen, số IMEI 1: 354192104190415, số IMEI 2: 354192104690414.
  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Bùi Thanh T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về cùng với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Bùi Thanh T đã khai nhận: Vào ngày 15 tháng 02 năm 2024, tại Khu phố D, Phường C, thành phố G, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Bùi Thanh T thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Trần Hoàng C1 là 01 điện thoại di động loại “Iphone 12 Promax” trị giá 10.700.000 đồng.

Ngoài ra, tại nhà của bị cáo T tọa lạc tại Khu phố D, Phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang, T còn thực hiện hành tàng trữ trái phép chất ma túy là Heroine với khối lượng 0,1028 gam, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố G phát hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu, không có oan sai.

Lời khai nhận trên của bị cáo đã phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G; Kết luận định giá số: 09/KL-HĐĐGTS ngày 19/02/2024, Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 09 tháng 3 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh T, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan cơ điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3]. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Bùi Thanh T đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị 10.700.000 đồng; cất giữ chất ma túy có tổng khối lượng 0,1028 gam, loại Heroine trong nhà bị cáo nhằm mục đích sử dụng. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về động cơ, mục đích của tội phạm: bị cáo T đã trưởng thành có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình, nhưng chỉ vì động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài và muốn sử dụng ma túy nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

[5]. Xét về nhân thân: Bị cáo Bùi Thanh T có nhân thân chưa tốt, cụ thể:

Bản án số 51/2013/HSST ngày 19/12/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Bùi Thanh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Trên cơ sở đánh giá nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo T có 01 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không nhận thức được lỗi lầm của mình mà lại tiếp tục trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Điều này chứng tỏ rằng bị cáo xem thường pháp luật, không chịu sửa chữa lỗi lầm. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội và có thời gian cai nghiện.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.

[9]. Về hành vi của người có liên quan: Do bị cáo T không xác định được địa điểm mua ma túy (chỉ biết tại khu vực thuộc thành phố M), không biết họ tên, nhân thân của người bán ma túy; ngoài lời khai của bị cáo T thì không có chứng cứ nào khác. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố G không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

[10]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Hoàng C1 sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[11]. Về vật chứng:

  • - 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 38 đề ngày 09 tháng 03 năm 2024; có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh T3 (Giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lí Giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Huỳnh Hải T4 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,0870 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Heroin và 01 đoạn ống nhựa trong suốt đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định. Xét thấy đây là tang vật của vụ án và là chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng, đây là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia 130”, loại bàn phím, màu đen, số IMEI 1: 354192104190415, số IMEI 2: 354192104690414. Đây là tài sản của bị cáo Bùi Thanh T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo T.

[12]. Bị cáo Bùi Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

[13]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự;
  • - Các Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.
  3. Về vật chứng:
  • - Tịch thu tiêu hủy:
  • + 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 38 đề ngày 09 tháng 03 năm 2024; có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh T3 (Giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lí Giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Huỳnh Hải T4 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,0870 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Heroin và 01 đoạn ống nhựa trong suốt đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.
  • + 01 (một) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng.
  • - Trả lại cho bị cáo Bùi Thanh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia 130”, loại bàn phím, màu đen, số IMEI 1: 354192104190415, số IMEI 2: 354192104690414.

Thời gian thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gò Công và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G)

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thành phố GC;
  • - Công an thành phố G C;
  • - Chi cục THADS thành phố G;
  • - Bộ phận THA phạt tù;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Thưa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự: trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PHẠT TÙ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger