|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 23/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Luận và ông Nguyễn Đắc Quýnh
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị La và bà Phạm Thị H – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Dương Kim T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04/3/1982; Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Dương Minh L và bà Triệu Minh L1; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ năm; có vợ là Triệu Thị L2; Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/02/2024 đến nay tại Trại tạm giam công an tỉnh H.
-
Lưu Đình H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26/01/1964; Nơi ĐKHKTT: Khu T, phường Á, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trình độ học vấn: 9/10; Con ông Lưu Đình T1 và bà Trương Thị L3; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là bà Phạm Thị H2; có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự; Chưa.
Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.
-
Đào Xuân X; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/02/1969; Nơi ĐKHKTT: KDC V, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Đào Xuân Đ và bà Nguyễn Thị L4; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm; Vợ là Trần Thị X1; có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự; Chưa.
Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.
-
Lưu Thị H3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 23/3/1970; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Lưu Đình T1 và bà Trương Thị L3; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; chồng Vũ Đình L5; Có 03 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự; Chưa.
Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại trong tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
- + Bà Đoàn Thị H4, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- + Bà Nguyễn Thị X2, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương
- + Bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương
- + Ông Lưu Đình H1, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị H2, sinh năm 1963; Địa chỉ: Khu D, TT T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
* Bị hại trong tội Cưỡng đoạt tài sản và G, giữ người trái pháp luật.:
- + Anh Dương Kim T, Sinh năm: 1982; Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh H
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tội Cưỡng đoạt tài sản và G, giữ người trái pháp luật: Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1963; Địa chỉ: Khu D, TT T, huyện T, tỉnh Hải Dương
Bà H4, bà H2 có mặt; bà H5, bà X2 có đơn đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Kim T có mối quan hệ quen biết với bà Phạm Thị H2 (vợ của Lưu Đình H1 – là bảo vệ tại xí nghiệp K1) và bà Nguyễn Thị H5, sinh năm: 1973, trú tại: xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Ngày 28/10/2023, Dương Kim T đến xí nghiệp K1 chơi. Tại đây, để có tiền đánh bạc, T nói dối với vợ chồng H1 và bà H5 về việc hàng ngày T đầu tư thu được lợi nhuận cao bằng cách sử dụng 02 điện thoại di động truy cập, nạp tiền vào hai website của nước ngoài để đầu tư, không bị mất vốn, đến cuối ngày hai website hoàn trả toàn bộ tiền đầu tư và trả lợi nhuận bằng 1,2%/ tổng số tiền đã đầu tư. T nói với vợ chồng H1, bà H5 nếu muốn kiếm tiền thì đưa tiền cho T đầu tư, thoả thuận lợi nhuận kiếm được T được 40 %, vợ chồng H1 và bà H5 được 60%. Tin là thật, sáng ngày 29/10/2023,bà H2 và bà H5 góp mỗi người 25.000.000đồng và thống nhất đưa cho H1 để H1 chuyển cho T. H1 sử dụng số tài khoản số 4602427176 mở tại ngân hàng Đ3 chuyển vào số tài khoản của T số 0965525008 mở tại ngân hàng M. Sau khi nhận được tiền, T nạp vào 02 tài khoản đánh bạc để đánh bạc cùng có tên "TuyenPX 82” được lập trên 2 trang wedsite www.-323.comwww.vlucky.com(2 wesite nêu trên có trụ sở tại Đài Loan)để đánh bạc. Cuối ngày, mặc dù thua bạc nhưng T nói dối thu được lợi nhuận 5.600.000 đồng và chuyển cho H1 số tiền này (số tiền trên, H1 chuyển cho bà H5 2.000.000 đồng, còn lại 3.600.000 đồng vợ chồng H1 giữ).
Ngày 30/10/2023, bà Đoàn Thị H4, sinh năm: 1962, trú tại: xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương (bạn vợ chồng H1) đến nhà vợ chồng H1 chơi. T và vợ chồng H1 kể về việc đầu tư như trên. Thấy vậy, bà H4 đã chuyển số tiền 50.000.000 đồng để T đầu tư (bà H4 giao cho bà H2, bà H2 sử dụng số tài khoản 102880032530 mở tại ngân hàng C chuyển đến số tài khoản của T). Sau đó, T tiếp tục nạp vào 02 tài khoản đánh bạc và bị thua. Tối cùng ngày, T tiếp tục nói dối H1 là đầu tư và thu được lợi nhuận 5.000.000 đồng và chuyển cho H1 số tiền trên (số tiền này H1 chuyển cho bà H5 2.000.000 đồng, bà H4 2.000.000 đồng, vợ chồng H1 giữ 1.000.000 đồng).
Ngày 31/10/2023, bà Nguyễn Thị X2, sinh năm: 1958, trú tại: xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (bạn vợ chồng H1) đến nhà vợ chồng H1 chơi, vợ chồng H1 và T nói với bà X2 việc mọi người đang giao tiền cho T đầu tư, thu được lợi nhuận cao, bà X2 cùng tham gia và đã chuyển cho H1 12.000.000 đồng; H1 chuyển cho T số tiền 32.000.000 đồng (trong đó có 12.000.000 đồng của bà X2, 20.000.000 đồng của vợ chồng H1). Nhận được số tiền trên, T tiếp tục sử dụng tiền để đánh bạc. Đến tối, T nói lợi nhuận kiếm được là 4.000.000 đồng và chuyển cho H1 (số tiền trên, H1 chuyển cho bà H4: 1.500.000 đồng, bà H5: 750.000 đồng, bà X2: 270.000 đồng, còn lại 1.480.000 đồng thì vợ chồng H1 giữ). Tiếp đến các ngày 01/11/2023 và ngày 02/11/2023, T tiếp tục đánh bạc trên mạng và không chuyển tiền cho H1.Tối ngày 02/11/2023 H1 yêu cầu T trả lại số tiền 132.000.000 đồng mà H1 và mọi người đã đưa T để đầu tư. Tuyên nói dối H1 do ngủ quên, đặt lệnh đầu tư nhầm làm mất hết tiền, còn lại 3.600.000 đồng và chuyển lại cho H1. T xin H1 cho về nhà tại Thái Nguyên vay mượn tiền trả nhưng H1 không đồng ý và yêu cầu T phải ở lại tại xí nghiệp K1 để tiếp tục đầu tư hoặc vay mượn ai trả lại tiền cho H1 nếu không sẽ báo cơ quan Công an giải quyết.
Từ ngày 02/11/2023 đến ngày 23/11/2023, H1 giam, giữ T tại khuôn viên Xí nghiệp K1 (bà H2 không biết việc H1 giam giữ đối với T), trực tiếp theo dõi giám sát hoạt động của T, không cho T rời khỏi khuôn viên xí nghiệp, nếu T muốn đi đâu phải có H1 đi cùng. Ban đêm, H1 đưa T vào phòng làm việc của ông Vũ Văn Đ1 – Phó giám đốc Xí nghiệp (ông Đ1 không biết việc H1 giam, giữ T tại đây) rồi khoá cửa, giữ chìa khoá, sáng hôm sau thì mở cửa cho T ra ngoài hoặc H1 ngủ cùng với T trong phòng làm việc của ông Đ1 để theo dõi giám sát, không cho T tự ý rời đi. Thời gian trên, T tiếp tục đánh bạc trên 02 website và đã trả lại cho vợ chồng H1 cùng các bà H5, H4, X2. Từ ngày 29/10/2023 đến ngày 08/12/2023, T đã chuyển trả cho H1 và những người bị hại tổng số tiền là 38.000.000 đồng.
Sáng ngày 23/11/2023, bà H5 đến nhà vợ chồng H1 chơi, H1 thống nhất với bà H2 và bà H5 về việc chỉ yêu cầu T trả lại số tiền 101.000.000 đồng (đã trừ đi số tiền 14.600.000 đồng tiền T nói là lợi nhuận vào các ngày 29, 30 và 31/10 và một phần tiền gốc T đã trả lại). Sau đó, H1 trực tiếp yêu cầu và buộc T viết 01 giấy vay nợ ghi ngày 28/10/2023, nội dung: “Ngày 28/10/2023, Dương Kim T có vay của chị Đoàn Thị H4 101.000.000 đồng và hẹn trả mỗi ngày trả là 04 triệu đồng trong 25 ngày”. Lý do H1 yêu cầu T viết giấy vay nợ đứng tên bà H4 do bà H4 là người có số tiền đầu tư nhiều nhất; Khi đó bà H4 không có mặt và không biệt việc H1 yêu cầu T viết giấy vay nợ). Sau đó, T viết theo yêu cầu của H1 và giao lại giấy trên cho H1. Cũng trong sáng 23/11/2023, H1 lo việc giữ T tại xí nghiệp K1 lâu sẽ bị phát hiện nên nói T chuyển đến nhà nghỉ T3 ở thôn H, xã Đ, huyện N để T tự thuê phòng ở tại đây. H1 gọi điện thoại cho Đào Xuân X (là bạn H1) đến nhà rồi điều khiển xe ô tô biển số 34A-17432 chở X và T đến nhà nghỉ T3. Trên đường đi, H1 nói nhờ X giúp H1 trông giữ T tại nhà nghỉ, không cho T tự ý rời đi thì X đồng ý. H1 yêu cầu T phải trả cho X 1.000.000 đồng/ ngày tiền công trông giữ. Khi đến nhà nghỉ T3, T trực tiếp thoả thuận thuê phòng 301 của nhà nghỉ với giá 200.000 đồng/ ngày và ở tại đây. Từ ngày 23/11/2023 đến ngày 08/12/2023, T bị giam, giữ tại phòng 301 nhà nghỉ T3 và tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Vào ban ngày, X là người theo dõi giám sát, trông giữ T không cho T tự ý rời khỏi nhà nghỉ, nếu T muốn đi đâu ra khỏi nhà nghỉ thì phải có X đi cùng. X nói với H3 việc trông giữ T vì T nợ tiền H1 không trả nên nhờ Lưu Thị H3 (chủ nhà nghỉ) vào ban đêmkhi X về nhà thì giúp Xanh theo dõi, giám sát T, không cho T tự ý dời khỏi nhà nghỉ, H3 đồng ý. Từ tối ngày 23/11/2023 đến ngày 08/12/2023, H3 giúp Xanh theo dõi, giám sát đối với T, H3 khoá cửa không cho T rời khỏi nhà nghỉ, nếu T muốn đi đâu thì yêu T phải gọi điện cho X để X đến đưa T đi. Trong khoảng thời gian này, X đã yêu cầu Tuyên mỗi ngày trả cho X 1.000.000 đồng, tổng cộng số tiền T đã trả cho X là 13.000.000 đồng, trả cho H1 và các bà H5, H4, X2 7.000.000 đồng. Ngày 08/12/2023, do không còn tiền để tiếp tục đánh bạc và trả cho H1, X nên T đã gọi điện trình báo cơ quan Công an. Khoảng 18 giờ 35 cùng ngày, Công an huyện N đến nhà nghỉ T3 xác minh thông tin thì phát hiện X cùng đồng bọn có hành vi giữ, giam T tại nhà nghỉ T3.
Quá trình điều tra xác định hành vi đánh bạc của Dương Kim T như sau: T sử dụng 02 điện thoại di động (01 điện thoại hiệu samsung galaxy A03s màu đen, 01 điện thoại hiệu Redmi màu xanh), kết nối mạng internet, lập sử dụng 02 tài khoản có cùng tên “TuyenPX82”, liên kết với tài khoản ngân hàng M nạp, rút tiền, truy cập vào hai website“ WWW.vluky.com“www.-323.comđể đánh bạc bằng hình thức chơi bài Baccarat thắng thua bằng tiền. Hình thức chơi bài Baccarat là trò chơi bài tây, so sánh điểm số. Tại mỗi trang web có các bàn chơi được đánh số ký hiệu để người chơi lựa chọn bàn chơi, đặt cược điểm một trong các cửa: “PLAYER” (người chơi) thắng thì tỉ lệ thắng thua 1:1, hoặc “BANKER” (nhà cái) thắng thì tỉ lệ thắng thua 1:0.95, cửa “TIE” (hoà giữa hai cửa người chơi và nhà cái). Sau đó mỗi cửa “BANKER” và “PLAYER” được tự động chia tối đa 03 lá bài tây, tối thiểu 02 lá, quy ước số điểm mỗi lá để tính tổng điểm 3 lá bài hoặc 2 lá bài. Cửa “PLAYER” thắng khi có tổng số điểm bài cao hơn cửa “BANKER”, thua khi có tổng số điểm bài thấp hơn cửa “BANKER” và hoà khi có tổng số điểm bài của hai cửa bằng nhau. Trường hợp thắng tài khoản sẽtự động được cộng thêm số điểm tương ứng đã đặt cược và tiền thưởng khuyến mãi = 1,2%/ tổng số điểm đặt cược, trường hợp thua thì bị trừ số điểm đặt cược. Khi người chơi nạp tiền vào tài khoản số tiền nạp sẽ tự động được đổi thành điểm và ngược lại (tương ứng 1 điểm là 1.000 đồng). Số tiền rút sẽ tự động chuyển vào tài khoản ngân hàng liên kết.
Với phương thức và thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ ngày 28/10/2023 đến ngày 08/12/2023, Dương KimTuyên đánh bạc thắng thua bằng tiền 83 lần, trong đó 80 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, với tổng số tiền dùng đánh bạc 9.492.521.150 đồng trên hai website cá cược WWW.vluky.comwww.-323.comcụ thể:
- + Đánh bạc 40 lần trên website www.-323.comvới 11.970 lượt đặt cược với tổng số tiền đặt cược 4.662.243.000 đồng, trong đó có 11 lần thắng bạc với tổng số tiền 55.323.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 4.717.566.000 đồng;
- + Đánh bạc 40 lần trên website WWW.vluky.com12.419 lượt đặt cược, với tổng số tiền đặt cược 4.692.423.000 đồng, trong đó có 15 lần thắng với tổng số tiền 82.532.150 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 4.774.955.150 đồng.)
Vật chứng thu giữ: Cơ quan CSĐT Công an huyện N quản lý vật chứng gồm: 01 ô tô nhãn hiệu DEAWOObiển kiểm soát 34A-174.32 H1 dùng chở T và X đến nhà nghỉ Thiên H6 vào là xe ô tô của H1 (mua lại của bà Vũ Thị Thanh H7, sinh năm 1971, trú tại khu A, phường T, Thành H vào năm 2022); 01 điện thoại di động hiệu S1 galaxyA03s số Imei: 357774839111613, gắn sim số điện thoại 0375.136.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 5G số imei: 862807056250009, gắn sim số điện thoại 0966.788.xxx; 01 điện thoại di động Nokia C20, số imei: 350266784952106 gắn sim số điện thoại 0879.253.xxx, 03 điện thoại trên là của Dương Kim T, T sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung galaxyA03s và điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 5G làm công cụ phương tiện để chơi đánh bạc, nhận chuyển tiền đánh bạc và chiếm đoạt tiền của của vợ chồng H1 và các bà H5, H4, X2 còn điện thoại di động N C20 Tuyên sử dụng liên lạc cá nhân; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, số máy MT9G2KH/A, gắn sim số điện thoại: 00912026xxx là điện thoại của Lưu Đình H1 dùng để nhận, chuyển tiền với T, liên lạc với X trong thời gian giam giữ Tuyên trái pháp luật; 01 điện thoại hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, số máy MKVY2LL/A là điện thoại của Đào Xuân X dùng liên lạc với H1 trong thời gian giam giữ T và nhận tiền chiếm đoạt của T 13.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, số máy MG9D3LL/A, gắn sim số điện thoại 0982.237.xxx là điện thoại của Lưu Thị H3, H3 sử dụng để làm phương tiện liên lạc cá nhân; 01 tờ giấy viết bằng mực màu xanh, ghi tiêu đề “Giấy VAY NỢ” đề ngày 28/10/2023” do Đoàn Thị H4 giao nộp, đây là tờ giấy vay nợ H1 yêu cầu T viết vào ngày 23/11/2023. Sau khi viết thì H1 giữ tờ giấy này, đến ngày 9/12/2023 H1 giao cho bà H4 để H4 giao nộp cho Công an huyện N; 01 giấy vay nợ được lưu giữ tại hồ sơ vụ án; Đối với chiếc ô tô và điện thoại thu giữ hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng chờ xử lý theo quy định.
* Về trách nhiệm dân sự:
Trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản những người bị hại gồm Lưu Đình H1, bà Phạm Thị H2, bà Đoàn Thị H4, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị X2 yêu cầu T trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 94.000.000 đồng (đã đối trừ một phần số tiền Tuyên trả trước đó, trong đó tiền của vợ chồng H1 là 29.275.00 đồng; bà H5 là 16.235.000 đồng, bà H4 là 38.970.000 đồng, bà X2 là 9.520.000 đồng).
Trong vụ án Giam, giữ người trái pháp luật: Người bị hại là Dương Kim T không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự.
Trong vụ án Cưỡng đoạt tài sản: Người bị hại Dương Kim T yêu cầu bị cáo X và H1 trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 9.800.000 đồng
Tại Cáo trạng số 33/CT-VKS-NS ngày 12/7/2024, Viện kiểm sát nhân huyện N, tỉnh Hải Dương truy tố Lưu Đình H1 về tội Cưỡng đoạt tài sản, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự và tội Giam, giữ người trái pháp luật, quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự; Dương Kim T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự và tội Đánh bạc, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Đào Xuân X về tội Cưỡng đoạt tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự và tội Giam, giữ người trái pháp luật, quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự; Lưu Thị H3 về tội Giam, giữ người trái pháp luật, quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Đình H1 phạm tội Cưỡng đoạt tài sản và tội Giam, giữ người trái pháp luật; Dương Kim T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Đánh bạc; Đào Xuân X phạm tội Cưỡng đoạt tài sản và tội Giam, giữ người trái pháp luật; Lưu Thị H3 phạm tội Giam, giữ người trái pháp luật; Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b,c khoản 2, 3 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 (thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản) điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585 Bộ luật dân sự đối với bị cáo T; Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170, khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 (thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Cưỡng đoạt tài sản), điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H1; Căn cứ khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 (thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Cưỡng đoạt tài sản), Điều 17, Điều 58, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo X; Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H3; Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Kim T từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và từ 04 năm đến 04 năm 03 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù thời hạn tính từ ngày tạm giam 28/02/2024; Xử phạt bị cáo Lưu Đình H1 từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản và từ 08 đến 09 tháng tù về tội Giam, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành từ 03 năm 11 tháng tù đến 04 năm 03 tháng tù thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án; Xử phạt bị cáo Đào Xuân X từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản và từ 06 đến 07 tháng tù về tội Giam, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án; Xử phạt bị cáo Lưu Thị H3 từ 06 đến 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H3 cho UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự; Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Dương Kim T phải trả cho vợ chồng bị cáo H1 là Lưu Đình H1 và Phạm Thị H2 số tiền 29.275.00 đồng; trả cho bà Nguyễn Thị H5 số tiền 16.235.000 đồng, trả cho bà Đoàn Thị H4 số tiền 38.970.000 đồng và trả cho bà Nguyễn Thị X2 số tiền 9.520.000 đồng. Buộc bị cáo Lưu Đình H1 và Đào Xuân X phải có trách nhiệm liên đới trả cho bị cáo Dương Kim T 9.800.000₫ chia kỷ phần mỗi bị cáo phải trả 4.900.000₫ nhưng được đối trừ vào số tiền các bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách. Hoàn trả các bị cáo số tiền còn thừa. Về xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước ½ giá trị: 01 ô tô nhãn hiệu DEAWOObiển kiểm soát 34A-174.32 và hoàn trả ½ giá trị chiếc xe trên cho bà Phạm Thị H2; Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S1 galaxyA03s số Imei: 357774839111613, gắn sim số điện thoại 0375.136.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 5G số imei: 862807056250009, gắn sim số điện thoại 0966.788.xxx thu giữ của Dương Kim T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, số máy MT9G2KH/A, gắn sim số điện thoại: 0912.026.xxx thu giữ của Lưu Đình H1; 01 điện thoại hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, số máy MKVY2LL/A thu giữ của Đào Xuân X; Trả lại 01 điện thoại di động Nokia C20, số imei: 350266784952106 gắn sim số điện thoại 0879.253.xxx cho Dương Kim T; Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, số máy MG9D3LL/A, gắn sim số điện thoại 0982.237.xxx cho Lưu Thị H3 (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách). Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính137.855.150đ của Dương Kim T; Về hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo T phải nộp từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ sung quỹ Nhà nước; Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm, buộc bị cáo X, H3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, VKSND huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của, bị hại biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
1. Đối với bị cáo Dương Kim T: Để có tiền đánh bạc, từ ngày 28/10/2023 đến ngày 31/10/2023, tại Xí nghiệp K1, địa chỉ khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Dương Kim T có hành vi dùng thủ đoạn gian dối bằng cách đưa ra thông tin về việc đầu tư trên mạng thu lợi nhuận cao, không mất vốn, hàng ngày được trả lợi nhuận bằng 1,2%/tổng số tiền đầu tư để Lưu Đình H1 và vợ là Phạm Thị H2 cùng bà Nguyễn Thị H5, Đoàn Thị H4, Nguyễn Thị X2 tin tưởng, chuyển tiền cho sau đó sử dụng để đánh bạc. Cụ thể, T chiếm đoạt của vợ chồng Lưu Đình H1 số tiền 45.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị H5 25.000.000 đồng, bà Đoàn Thị H4 50.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị X2 12.000.000 đồng. Tổng số tiền T đã chiếm đoạt là 132.000.000 đồng.
Trong thời gian từ ngày 28/10/2023 đến ngày 8/12/2023, tại khu D, thị trấn T, huyện T và nhà nghỉ T3 thuộc thôn H, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương, Dương Kim T đã có hành vi sử dụng 02 điện thoại di động: 01 điện thoại hiệu samsung galaxy A03s màu đen, 01 điện thoại hiệu Redmi màu xanh kết nối mạng internet, truy cập, sử dụng 02 tài khoản đánh bạc có cùng tên “TuyenPX82” do T tạo lập trước đó, đánh bạc bằng hình thức chơi bài Baccarat thắng thua bằng tiền 83 lần, trong đó 80 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên trên hai website cá cược WWW.vluky.com“www.-323.comcủa nước ngoài cụ thể: đánh bạc 40 lần trên website “www.-323.comvới 11.970 lượt đặt cược với tổng số tiền đặt cược 4.662.243.000 đồng, trong đó có 11 lần thắng bạc với tổng số tiền 55.323.000 đồng (số tiền dùng vào đánh bạc là 4.717.566.000 đồng) và Đánh bạc 40 lần trên website WWW.vluky.com12.419 lượt đặt cược, với tổng số tiền đặt cược 4.692.423.000 đồng trong đó có 15 lần thắng với tổng số tiền 82.532.150 đồng (số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 4.774.955.150 đồng). Tổng số tiền bị can sử dụng vào việc đánh bạc là 9.492.521.150
2. Đối với bị cáo Lưu Đình H1:
Xuất phát từ việc Dương Kim T đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt số tiền 132.000.000 đồng của vợ chồng Lưu Đình H1 cùng bà Nguyễn Thị H5, bà Đoàn Thị H4, bà Nguyễn Thị X2 nên từ ngày 02/11/2023 đến ngày 23/11/2023 tại xí nghiệp K1, địa chỉ Khu D, thị trấn T, huyện T và từ ngày 23/11/2023 tại nhà nghỉ T3, địa chỉ thôn H, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương Lưu Đình H1 có hành vi giam, giữ Dương Kim T nhằm mục đích để T phải trả lại số tiền T đã chiếm đoạt.
Ngoài ra, trong thời gian giam, giữ T, Ngày 23/11/2023 tại xí nghiệp K1, Lưu Đình H1 có hành vi buộc T phải viết giấy vay nhận nợ số tiền 101.000.000 đồng và yêu cầu T phải trả cho Đào Xuân X tiền công trông giữ đối với T là 1.000.000 đồng/ngày trong thời gian trông giữ T tại nhà nghỉ T3 nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền trên của T. Tổng số tiền H1 đã chiếm đoạt của Dương Kim T là 101.000.000 đồng + 13.000.000 đồng = 114.000.000 đồng.
3. Đối bị cáo Đào Xuân X:
Do có mối quan hệ là bạn bè quen biết từ trước với Lưu Đình H1 và được H1 nhờ trông giữ T, trong thời gian từ ngày 23/11/2023 đến ngày 08/12/2023 Đào Xuân X có hành vi giam, giữ đối với T tại nhà nghỉ T3 tại thôn H, xã Đ, huyện N. Cũng trong khoảng thời gian này, X đã yêu cầu Tuyên mỗi ngày trả cho X 1.000.000 đồng tiền công trông giữ để chiếm đoạt tiền của T. Tổng số tiền X đã chiếm đoạt của T là 13.000.000 đồng.
4. Đối với cáo Lưu Thị H3:
Do có mối quan hệ bạn bè quen biết từ trước Đào Xuân X và là em gái ruột của Lưu Đình H1. Ngày 23/11/2023, H3 biết việc H1, X giam giữ Tuyên tại nhà nghỉ T3, khi X về nhà, nhờ H3 trông giữ T giúp X vào ban đêm thì H3 đồng ý. Sau đó, từ tối ngày 23/11/2023 đến ngày 8/12/2023 vào ban đêm, H3 trực tiếp theo dõi, giám sát, trông giữ T, khoá cửa nhà nghỉ không cho T tự ý rời khỏi nhà nghỉ, khi T muốn rời khỏi nhà nghỉ thì H3 yêu cầu buộc T phải gọi điện cho X để X đến đưa T đi.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi thực hiện nêu trên là vi phạm pháp luật.
Dương Kim T với hành vi dùng thủ đoạn gian dối bằng cách đưa ra thông tin về việc đầu tư trên mạng thu lợi nhuận cao, không mất vốn, hàng ngày được trả lợi nhuận bằng 1,2%/tổng số tiền đầu tư để Lưu Đình H1,bà Phạm Thị H2, bà Nguyễn Thị H5, bà Đoàn Thị H4, bà Nguyễn Thị X2 tin tưởng, chuyển tiền cho T mục đích T chiếm đoạt tiền là để sử dụng vào việc đánh bạc. T chiếm đoạt tổng số tiền là 132.000.000đ. Từ việc có tiền chiếm đoạt trên T đã sử dụng điện thoại di động của mình kết nối mạng internet, truy cập, sử dụng 02 tài khoản đánh bạc có cùng tên “TuyenPX82” do T tạo lập đánh bạc bằng hình thức chơi bài Baccarat thắng thua bằng tiền 83 lần, trong đó 80 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên trên hai website cá cược WWW.vluky.com“www.-323.comcủa nước ngoài. Tổng số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.492.521.150 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Lưu Đình H1 xuất phát từ việc Dương Kim T đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt số tiền 132.000.000 đồng của vợ chồng Lưu Đình H1 và những người nêu trên nên từ ngày 02/11/2023 đến ngày 23/11/2023 tại xí nghiệp K1, địa chỉ khu D, thị trấn T, huyện T và từ ngày 23/11/2023 đến ngày 08/12/2023 tại nhà nghỉ T3, địa chỉ thôn H, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương Lưu Đình H1 có hành vi giam, giữ Dương Kim T nhằm mục đích để T phải trả lại số tiền T đã chiếm đoạt. Trong thời gian giam giữ T, H1 đã có hành vi buộc T phải viết giấy vay nhận nợ số tiền 101.000.000 đồng và yêu cầu T phải trả cho Đào Xuân X tiền công trông giữ đối với T là 1.000.000 đồng/ngày trong thời gian trông giữ Tuyên 13 ngày tại nhà nghỉ T3 nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 13.000.0000đ của T. Tổng số tiền H1 đã chiếm đoạt của Dương Kim T là 114.000.000 đồng nên những hành vi của H1 nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội Giam, giữ người trái pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ Luật hình sự và tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự.
Đào Xuân X trong thời gian từ ngày 23/11/2023 đến ngày 08/12/2023 đã có hành vi giam, giữ đối với T tại nhà nghỉ T3 tại thôn H, xã Đ, huyện N và cũng trong khoảng thời gian này, X đã yêu cầu Tuyên mỗi ngày trả cho X 1.000.000 đồng tiền công trông giữ để chiếm đoạt tiền của T. Tổng số tiền X đã chiếm đoạt của T là 13.000.000 đồng. Do đó, hành vi trên của X đã đủ yếu tố cấu thành tội Giam, giữ người trái pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ Luật hình sự và tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.
Lưu Thị H3 là em gái ruột của Lưu Đình H1. Từ tối ngày 23/11/2023 đến ngày 8/12/2023 H3 có hành vi trông giữ T giúp X vào ban đêm cụ thể là trực tiếp theo dõi, giám sát, trông giữ T, khoá cửa nhà nghỉ không cho T tự ý rời khỏi nhà nghỉ, khi T muốn rời khỏi nhà nghỉ thì H3 yêu cầu buộc T phải gọi điện cho X để X đến đưa T đi. Do đó, hành vi của H3 đã đủ yếu tố cấu thành tội Giam, giữ người trái pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ Luật hình sự.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của T là hành vi độc lập. Còn hành vi phạm tội của H1, X, H3 là hành vi đồng phạm tuy nhiên là đồng phạm giản đơn nhưng cũng cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để có mức án phù hợp với tính chất hành vi phạm tôi của các bị cáo. Trong vụ án Giam, giữ người trái pháp luật thì H1 là người đề xuất và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò chính, tiếp đến là X tiếp nhận ý chí của H1 đã trực tiếp giam, giữ T tại nhà nghỉ T3 còn H3 khi được Xanh nhờ trông giữ Tuyên khi X không có mặt ở nhà nghỉ T3 nên giữ vai trò sau cùng. Trong vụ án Cưỡng đoạt tài sản, Lưu Đình H1 là người đề xuất, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, Đào Xuân X đồng phạm với vai trò người thực hành.
[4] Hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cưỡng đoạt tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, hành vi giam giữ người trái pháp luật là xâm phạm đến quyền tự do thân thể của con người, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương; Các bị cáo nhận thức được các hành vi mà các bị cáo thực hiện là hành vi trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T, H1 phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo T tự nguyện trả một phần tiền chiếm đoạt cho các bị hại nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị cáo X, H1 tự nguyện nộp khoản tiền đã chiếm đoạt của T tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Cưỡng đoạt tài sản; bị cáo H3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo X, bị cáo T, bị cáo H3, bị cáo H1 đều có bố mẹ được tặng thưởng huân huy chương, T xin giảm nhẹ cho H1, X, H3; H1, bà H2, bà H5, bà X2, bà H4 xin giảm nhẹ hình phạt cho T. Bị cáo H1, H3 có nhiều đóng góp với địa phương trong phòng chống dịch cũng như ủng hộ các quỹ tại địa phương nơi cư trú nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo T, H1, X phạm nhiều tội điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Trong vụ án trên các bị cáo phạm nhiều tội nên cần tổng hợp hình phạt của các tội theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự.
Bị cáo H3 là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Các bị hại gồm Lưu Đình H1, bà Phạm Thị H2, bà Đoàn Thị H4, bà Nguyễn Thị H5, bà Nguyễn Thị X2 yêu cầu T trả lại số tiền đã chiếm đoạt sau khi trừ đi một phần tiền bị cáo T trả trước đó còn là 94.000.000 đồng. Cụ thể: trả Lưu Đình H1 và vợ là bà Phạm Thị H2 là 29.275.00 đồng; trả bà H5 là 16.235.000 đồng, trả bà H4 là 38.970.000 đồng, trả bà X2 là 9.520.000 đồng. Đây là số tiền bị cáo đã chiếm đoạt nên cần buộc bị cáo phải trả số tiền trên cho các bị hại.
Trong vụ án Cưỡng đoạt tài sản: Dương Kim T yêu cầu Đào Xuân X trả lại số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 9.800.000 đồng. Trong vụ án trên bị cáo H1 và X là đồng phạm nên phải có trách nhiệm liên đới trả cho Dương Kim T. Tại phiên tòa Tuyên nhất trí X3, H1 mỗi người trả cho T 4.900.000đ, ngoài ra không còn yêu cầu nào khác. Quá trình truy tố các bị cáo X3, T tự nguyện khắc phục hậu quả và mỗi bị cáo đã nộp 8.000.000đ để khắc phục hậu quả là trả lại tiền chiếm đoạt của T. Bị cáo X3 nộp 8.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách theo biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/23 số 00000747 ngày 10/7/2024. Bị cáo H1 nộp 8.000.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách theo biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/23 số 00000748 ngày 10/7/2024. Bị cáo X3, T đề nghị trả lại số tiền còn thừa.
Ngoài ra, không ai còn yêu cầu nào khác về trách nhiệm dân sự.
[7] Về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp:
Về biện pháp tư pháp: Bị cáo T đánh bạc bằng hình thức trực tuyến, cơ quan điều tra không thu giữ được số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên HĐXX không áp dụng biện pháp tịch thu tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc; Đối với số tiền thu lợi bất chính là tổng tiền bị cáo đánh bạc thắng là 137.855.150 đồng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo X3, H3 là hiện lao động tự do, không có tài sản riêng; bị cáo H1 là người cao tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Bị cáo T thực hiện nhiều hành vi đánh bạc liên tục trong thời gian dài nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với hành vi đánh bạc. Phạt tiền bị cáo 15.000.000đ sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[8] Về vật chứng:
Đối với chiếc ô tô nhãn hiệu DEAWOObiển kiểm soát 34A-174.32 bị cáo H1 sử dụng chở T và X3 đến nhà nghỉ T3 là tài sản chung của vợ chồng H1 ( vợ là Phạm Thị H2 không biết H1 sử dụng vào việc phạm tội) do vậy cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe và hoàn trả ½ giá trị chiếc xe trên cho bà Phạm Thị H2; Đối với 01 điện thoại di động hiệu S1 galaxyA03s số Imei: 357774839111613, gắn sim số điện thoại 0375.136.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 5G số imei: 862807056250009, gắn sim số điện thoại 0966.788.xxx; 01 điện thoại di động Nokia C20, số imei: 350266784952106 gắn sim số điện thoại 0879.253.xxx thu giữ của Dương Kim T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, số máy MT9G2KH/A, gắn sim số điện thoại: 0912.026.xxx thu giữ của Lưu Đình H1; 01 điện thoại hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, số máy MKVY2LL/A thu giữ của Đào Xuân X sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước; Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, số máy MG9D3LL/A, gắn sim số điện thoại 0982.237.xxx thu giữ của Lưu Thị H3. H3 sử dụng để liên lạc nên cần trả lại cho bị cáo H3 theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách;
[9] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, bị cáo H1 là người cao tuổi trên 60 tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo T có trách nhiệm bồi thường dân sự nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Đối với Dương Kim T, ngoài hành vi Đánh bạc nêu trên còn có hành vi: sử dụng 02 điện thoại di động: 01 điện thoại hiệu samsung galaxy A03s màu đen,sử dụng 02 điện thoại di động: 01 điện thoại hiệu samsung galaxy A03s màu đen, 01 điện thoại hiệu Redmi màu xanh kết nối mạng internet, sử dụng 02 tài khoản có cùng tên “TuyenPX82” do T tạo lập trước đó, truy cập, đánh bạc bằng hình thức chơi bài Baccarat thắng thua bằng tiền trên hai website “ WWW.vluky.com“www.-323.comvào ngày 13/11/2024 cụ thể: sử dụng tài khoản trên website “www.-323.comđánh bạc, đặt cược liên tiếp 38 lượt, trong đó có lượt thắng, lượt thua, với tổng điểm đặt cược 2.800 điểm, tương ứng 2.800.000 đồng. Cuối ngày, kết thúc lần chơi đã thua 370 điểm, tương ứng 370.000 đồng. Như vậy, số tiền T dùng đánh bạc là 2.800.000 đồng. Đồng thời, sử dụng tài khoản trên website “ WWW.vluky.comđánh bạc, đặt cược liên tiếp 13 lượt, trong đó có lượt thắng, lượt thua, với tổng điểm đặt cược 950 điểm, tương ứng 950.000 đồng. Cuối ngày, kết thúc lần chơi đã thua 407.5 điểm, tương ứng 407.500 đồng. Như vậy, số tiền T dùng đánh bạc là 950.000 đồng và vào ngày 16/11/2023, T sử dụng tài khoản trên website “ WWW.vluky.comđánh bạc, đặt cược liên tiếp 8 lượt, trong đó có lượt thắng, lượt thua, với tổng điểm đặt cược 410 điểm, tương ứng 410.000 đồng. Cuối ngày, kết thúc lần chơi đã thua 210 điểm, tương ứng 210.000 đồng. Như vậy, số tiền T dùng đánh bạc là 410.000 đồng. Cả 03 lần chơi đánh bạc nêu trên của Dương Kim T, số tiền dùng đánh bạc dưới mức 5.000.000 đồng, T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, chưa được xoá án tích. Do đó, hành vi của T không đủ yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc, nhưng đã vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 điều 28 nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng chống bạo lực gia đình. Ngày 19 tháng 6 năm 2024, Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Dương Kim T bằng hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với các bà Phạm Thị H2 (vợ H1), Nguyễn Thị H5, Đoàn Thị H4, Nguyễn Thị X2 là bị hại của vụ án. Sau khi bị T chiếm đoạt tiền thì không có hành vi tham gia cùng các bị can Lưu Đình H1, Đào Xuân X, Lưu Thị H3 giam giữ Tuyên trái pháp luật, cưỡng đoạt tài sản của T nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với ông Vũ Văn Đ1– Phó giám đốc Xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi huyện K1. Quá trình điều tra xác định: Lưu Đình H1 là bảo vệ xí nghiệp nên được ông Đ1 giao cho chìa khoá phòng làm việc để hàng ngày trông nom, quét dọn. H1 đã sử dụng phòng làm việc của ông Đ1 để giam giữ Dương Kim T vào ban đêm từ ngày 2/11/2023 đến ngày 23/11/2023, tuy nhiên ông Đ1 không biết, không tham gia vào việc giam giữ T, không có yêu cầu gì. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với hai website cá cược “ WWW.vluky.com“www.-323.comtổ chức đánh bạc cho T. Kết quả điều tra xác định nhà cung cấp là S computing co..L6, có trụ sở tại Đài Loan. Đối với các tài khoản ngân hàng nhận chuyển tiền đánh bạc (đại lý) gồm: tài khoản ngân hàng T4, tài khoản ngân hàng S2 số 8293001668, tài khoản ngân hàng V số 1021235226 và các tài khoản ngân hàng S3 pay: 9704229208270064787, 9704229200790705122, 9704229208529606784. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiền hành xác minh tại các ngân hàng xác định thông tin chủ tài khoản lần lượt là Hồ Đình D, sinh năm 1991, trú tại: Tổ C. Đ, C, TP C, tỉnh Quảng Ninh; Vũ Tiến D1, sinh năm 1989, trú tại: xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Phan Văn H8, sinh năm 1978, trú tại: tổ A, KV5, H, thành phố H, Lê Văn T2, sinh năm: 1991, trú tại: N, N, Hải Dương, Trần Đức K, sinh năm 1990, trú tại: Đ, Đ, Quảng Ninh, Trần Văn L7, sinh năm 1995, trú tại: số D N, H, Đ, Hà Nội. Kết quả điều tra xác định các số tài khoản trên đều được đăng ký bằng thông tin giả, không xác định được người sử dụng đang là ai, ở đâu. Do đó, Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b,c khoản 2, 3 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 (thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản) điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585 Bộ luật dân sự đối với bị cáo T.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170, khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 (thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Cưỡng đoạt tài sản), điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H1.
Căn cứ khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 (thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Cưỡng đoạt tài sản), Điều 17, Điều 58, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo X
Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hương
Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Dương Kim T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Đánh bạc; Bị cáo Lưu Đình H1 phạm tội Cưỡng đoạt tài sản và tội Giam, giữ người trái pháp luật; Bị cáo Đào Xuân X phạm tội Cưỡng đoạt tài sản và tội Giam, giữ người trái pháp luật; Bị cáo Lưu Thị H3 phạm tội Giam, giữ người trái pháp luật.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Dương Kim T 04 (bốn) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 04 (bốn) năm tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành 08 (tám) năm tù thời hạn tính từ ngày tạm giam 28/02/2024.
Xử phạt bị cáo Lưu Đình H1 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản và 10 (mười) tháng tù về tội Giam, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành 04 (bốn) năm 01 (một) tháng tù thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Đào Xuân X 01 (một) năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản và 08 (tám) tháng tù về tội Giam, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Lưu Thị H3 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự; Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Dương Kim T phải trả cho vợ chồng bị cáo H1 là Lưu Đình H1 và bà Phạm Thị H2 số tiền 29.275.000 đồng; trả cho bà Nguyễn Thị H5 số tiền 16.235.000 đồng, trả cho bà Đoàn Thị H4 số tiền 38.970.000 đồng và trả cho bà Nguyễn Thị X2 số tiền 9.520.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Lưu Đình H1 và Đào Xuân X phải liên đới trả cho Dương Kim T số tiền đã chiếm đoạt là 9.800.000đ. Chia theo kỷ phần mỗi người phải trả cho T là 4.900.000đ. Số tiền trên được đối trừ vào số tiền 8.000.000đ Lưu Đình H1 đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách theo biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/23 số 00000748 ngày 10/7/2024. Hoàn trả bị cáo H1 số tiền 3.100.000đ còn thừa. Đối trừ vào số tiền 8.000.000₫ bị cáo Đào Xuân A đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách theo biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/23 số 00000747 ngày 10/7/2024. Hoàn trả bị cáo X số tiền 3.100.000₫ còn thừa.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước ½ giá trị 01 ô tô nhãn hiệu DEAWOO Biển kiểm soát 34A-174.32 và hoàn trả ½ giá trị chiếc xe trên cho bà Phạm Thị H2.
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S1 galaxyA03s số Imei: 357774839111613, gắn sim số điện thoại 0375.136.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 5G số imei: 862807056250009, gắn sim số điện thoại 0966.788.xxx thu giữ của Dương Kim T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, số máy MT9G2KH/A, gắn sim số điện thoại: 0912.026.xxx thu giữ của Lưu Đình H1; 01 điện thoại hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, số máy MKVY2LL/A thu giữ của Đào Xuân X.
Trả lại 01 điện thoại di động Nokia C20, số imei: 350266784952106 gắn sim số điện thoại 0879.253.xxx cho Dương Kim T.
Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, số máy MG9D3LL/A, gắn sim số điện thoại 0982.237.xxx cho Lưu Thị H3.
(theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách).
5. Về biện pháp tư pháp và hình phạt bổ sung:
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính 137.855.150đ (Một trăm ba mươi bẩy triệu tám trăm năn mươi lăm nghìn một trăm năm mươi đồng) của Dương Kim T. T chưa nộp.
Về hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo T phải nộp 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
6. Về án phí:
Buộc bị cáo Dương Kim T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 4.700.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Đào Xuân X và Lưu Thị H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ án phí sơ thẩm hình sự
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lưu Đình H1
Các bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Điệp |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đánh bạc; cưỡng đoạt tài sản; giam giữ người trái pháp luật
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Đánh bạc; Cưỡng đoạt tài sản; Giam giữ người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Kim Tuyên cùng Đp phạm tội Đánh bạc, Giữ người trái pháp luật, cưỡng đoạt tài sản và lừa đảo CĐTS
