|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 31/2024/DS-ST Ngày: 22 - 8- 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Vượng
Ông Trần Nhị Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Khải Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2024/TLST-DS về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” ngày 11/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024; và Quyết định hoãn phiên Tòa ngày 16/8/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N1 (Ngân hàng)
Địa chỉ: Số A, Trần Quang K, Phường L, Quận H, TP .
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền khởi kiện: Ông Nguyễn Tấn P - Giám đốc Ngân hàng N1, Chi nhánh B1.
Ủy quyền lại: Ông Hà Ngọc D1 - Trưởng phòng PGD Phước Bình, Ngân hàng.(có mặt)
Địa chỉ: KP E, Phường L, Thị xã P, tỉnh Bình Phước
- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Thành C - sinh năm 1980 (vắng mặt)
2. Bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1986.(vắng mặt có yêu cầu)
Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Đăng N (vắng mặt có yêu cầu)
Địa chỉ: tổ D, ấp A, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) ông Hà Ngọc D1 trình bày:
Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh B1 - P1 cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thành C vay vốn theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 104A22/CN/PB ngày 26/05/2022, cụ thể như sau:
Trị giá hợp đồng: 4.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ tám trăm triệu đồng). Thời hạn vay: tối đa 06 tháng/ giấy nhận nợ. Mục dích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Dư nợ gốc đến thời điểm 22/1/2023: 4.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ tám trăm triệu đồng). Nợ lãi đến hết ngày 22/11/2023: 342.217.277 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bốn mươi hai triệu hai trăm mười bảy nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng). Lãi quá hạn nợ gốc tạm tính đến hết ngày 22/11/2023: 61.446.575 đồng.
Để đảm bảo cho các Hợp đồng tín dụng nêu trên bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thành C đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất đứng tên bên thứ ba theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AN 819278, số vào sổ H-03133, do UBND huyện H cấp ngày 20/12/2008, cập nhật biến động ngày 29/03/2016 bởi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AN 819278, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H-03133, do UBND huyện H cấp ngày 20/12/2008, cập nhật biên động ngày 29/03/2016 bởi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, địa chỉ ấp H, xã A, huyện B (nay thuộc huyện H), tỉnh Bình Phước, số hợp đồng đảm bảo 104TC22/PB ngày 26/05/2022, trị giá 8.531.000.000 đồng.
Tính đến hết ngày 01/8/2024, tổng nợ của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thành C tại VCB P là: 8.785.976.181 đồng, trong đó: Dư nợ gốc đến thời điểm ngày 03/08/2024: 4.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ tám trăm triệu). Nợ lãi trong hạn đến hết ngày 01/8/2024: 742.852.893 đồng. Nợ lãi quá hạn tạm tính đến hết ngày 01/8/2024: 243.123.288 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp yêu cầu bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thành C thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên. Tuy nhiên, tính đến nay, bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thành C vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với Ngân hàng.
Nay Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Tuyên buộc bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thành C phải thực nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi và phí phát đến hết ngày 21/8/2024 là: 5.829.373.441 đồng (Năm tỷ, tám trăm hai mươi chín triệu, ba trăm bảy mươi ba ngàn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó: Dư nợ gốc: 4.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ tám trăm triệu). Nợ lãi trong hạn đến hết ngày xét xử: 771.784.400 đồng (B trăm bảy mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi tư ngàn, bốn trăm đồng). Nợ lãi quá hạn 257.589.041 đồng (hai trăm năm mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn, không trăm bốn mươi mốt đồng).
- Tuyên buộc bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thành C phải tiếp tục trả lãi phát sinh sau từ ngày xét xử 22/8/2024 cho đến ngày thực tế bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thành C trả hết nợ gốc cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 104A22/CN/PB ngày 26/05/2022.
- Tuyên trong trường hợp bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thành C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thành C theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất 104TC22/PB ký ngày 26 tháng 05 năm 2022 đề thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn Ông Nguyễn Thành C vắng mặt tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án có trình bày: Ông thống nhất nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì ông C không có ý kiến vì hiện nay ông C và bà H đã ly hôn, ông C không có khả năng trả nợ, nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn Bà Nguyễn Thị H vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án có trình bày: Thống nhất nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H đồng ý trả nợ gốc và tiền lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng vay vốn ngày 26/5/2022. Do hiện tại bà đang có nhiều công việc riêng, không có thời gian tham gia giải quyết vụ án nên bà H đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và xét xử.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Đăng N vắng mặt có yêu cầu vắng mặt và có trình bày:
Ông N đồng ý với phần trình bày trong đơn khởi kiện của nguyên đơn. Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì do ông C và bà H không còn khả năng thanh toán số tiền nợ Ngân hàng nên ông N không có ý kiến gì khác. Về việc xử lý tài sản thế chấp thì ông N đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do công việc làm ăn khó khăn nên ông N đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt trong quá trình xét xử.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tỉnh Bình Phước tại phiên Tòa phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên toà xét xử. Nguyên đơn, bị đơn về cơ bản chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng.
Về nội dung vụ án: Xét thấy ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đối với khoản nợ đã vay theo hợp đồng tín dụng. Việc Ngân hàng thu hồi nợ và khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H phải trả số nợ đã vay và lãi suất là có căn cứ. Trường hợp ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H không thanh toán nợ thì cần phải xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đã thế chấp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả tiền gốc, tiền lãi và xử lý tài sản thế chấp theo quy định. Án phí, các chi phí tố tụng khác bị đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng khởi kiện ông Nguyễn Thành C bà Nguyễn Thị H để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H trả tiền nợ gốc và lãi suất nợ quá hạn theo hợp đồng tín dụng đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện H, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa bị đơn bà H, ông N vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định.
[3] Về nội dung vụ án:
Xét thấy, Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 104A22/CN/PB ngày 26/05/2022 giữa nguyên đơn Ngân hàng với bị đơn ông Nguyễn Thành C và Nguyễn Thị H trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Quá trình thực hiện hợp đồng phía bị đơn ông C, bà H đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, không trả nợ trong nhiều kỳ, nên Hội đồng xét xử nhận định bị đơn vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng là có căn cứ, phù hợp với lời thừa nhận của bị đơn do có khó khăn về kinh tế đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ.
Quá trình giải quyết vụ án ông C đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà H vắng mặt, nhưng qua bản tự khai cũng thống nhất đồng ý với đơn khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, đơn khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H phải trả số tiền còn nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về lãi suất: Đối với khoản tiền lãi mà Ngân hàng tạm tính đến ngày 22/8/2024 phù hợp với các nội dung theo hợp đồng tín dụng ký kết, phù hợp với khoản 2, Điều 91, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 7, 8,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 22/8/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 104A22/CN/PB ngày 26/05/2022 cho đến khi ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H thanh toán xong khoản nợ là có căn cứ.
[5] Về tài sản thế chấp: Xét thấy hợp đồng thế chấp của các bên, đã được đăng ký thế chấp, thực hiện các thủ tục đúng quy định về tài sản đảm bảo. Qua yêu cầu của nguyên đơn và ý kiến đồng ý của bị đơn, trường hợp ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng tín dụng nói trên thì các tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất Ngân hàng có quyền phát mãi, xử lý theo quy định là có căn cứ.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Thành C, bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định. Ngân hàng không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, khấu trừ vào số tiền nguyên đơn đã đóng tạm ứng nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
Căn cứ Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng
Án lệ số 08/2016/ALHội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 đối với bị đơn ông Nguyễn Thành C, bà Nguyễn Thị H.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Thành C, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền 5.829.373.441 đồng (Năm tỷ, tám trăm hai mươi chín triệu, ba trăm bảy mươi ba ngàn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó: Dư nợ gốc: 4.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ tám trăm triệu). Nợ lãi trong hạn đến hết ngày xét xử: 771.784.400₫ (Bảy trăm bảy mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi tư ngàn, bốn trăm đồng). Nợ lãi quá hạn 257.589.041đ (hai trăm năm mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn, không trăm bốn mươi mốt) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông C, bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng 104A22/CN/PB ngày 26/05/2022 cho đến khi ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H không thanh toán được các khoản nợ thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên bên thứ ba theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AN 819278, số vào sổ H - 03133, do UBND huyện H cấp ngày 20/12/2008, cập nhật biến động ngày 29/03/2016 bởi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AN819278, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H-03133, do UBND huyện H cấp ngày 20/12/2008, cập nhật biến động ngày 29/03/2016 bởi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, địa chỉ ấp H, xã A, huyện B (nay thuộc huyện H), tỉnh Bình Phước, số hợp đồng đảm bảo 104TC22/PB ngày 26/05/2022 để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP N1.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H phải chịu 74.482.373 đồng (Bảy mươi bốn triệu, bốn trăm tám mươi hai ngàn, ba trăm bảy mươi ba đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền tạm ứng án phí 58.265.500 đồng (Năm mươi tám triệu, hai trăm sáu mươi lăm ngàn, năm trăm đồng) đã nộp theo biên lai thu số 005153 ngày 11/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H phải chịu 5.000.000đ. Khấu trừ vào số tiền Ngân hàng đã nộp nên ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
- Đương sự có mặt tại phiên Tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sựthời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Hồng |
Bản án số 31/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 31/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
