Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Quang

Ông Nguyễn Mạnh Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Quốc Ất - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lô Văn Q, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 02 tháng 02 năm 1962 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Bản M, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 04/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lô Văn Q1 và con bà Lương Thị Q2 (Đều đã chết); vợ: Vi Thị D: con: Có 05 con; Tiền án: Ngày 11/11/2002, Lô Văn Q bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 08 (T) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, tại bản án hình sự sơ thẩm số 352/HSST. Đến ngày 26/7/2008 chấp hành xong hình phạt tù.

- Ngày 27/6/2016, Lô Văn Q bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 (T) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, tại bản án hình sự sơ thẩm số 71/2016/HSST. Đến ngày 15/02/2023 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 12 năm 2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Anh Vi Văn C. Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ, ngày 15/12/2023, Lô Văn Q đi bộ từ nhà của mình, lên khu vực đồi thuộc bản Minh P, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Q tìm gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 (Một) gói Heroine và 01 (Một) gói Hồng phiến, với giá 1.000.000 (Một triệu) đồng. Sau đó, Lô Văn Q cầm lấy số ma túy vừa mua được, rồi đi ra chỗ khác lấy 02 (Hai) viên hồng phiến ra để sử dụng. Số ma túy còn lại, Quý gói lại như cũ và cất trong túi áo của Q đang mặc, rồi quay về nhà. Đến khoảng 19 giờ 10 phút cùng ngày, khi Lô Văn Q đang đi bộ trên đồi thuộc khu vực bản M, xã L, huyện T, thì bị tổ công tác Công an xã L, huyện T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi áo trước ngực bên trái của Lô Văn Q 01 (Một) gói được gói bằng bao ni lông màu trắng, bên trong gồm: 01 (Một) gói được gói bằng mảnh giấy vỏ bao thuốc lá màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 (Một) gói được gói bằng bao ni lông màu đen bên trong chứa các viên nén màu hồng. Lô Văn Q khai nhận, số chất bột màu trắng là Heroine, còn số viên nén màu hồng là ma tuý Hồng phiến của Q mua về để sử dụng.

Kết luận giám định số 17/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N xác định: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lô Văn Q gửi đến giám định là ma túy (Heroine), có khối lượng là 0,82 (Không phẩy tám mươi hai) gam. Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lô Văn Q gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine), có khối lượng là 1,05 (Một phẩy không năm) gam".

Bản Cáo trạng số 25/CT-VKS-TD ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Lô Văn Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lô Văn Q mức án từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Người bào chữa đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự lượng mình ở mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

3

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lô Văn Q đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 19 giờ 10 phút ngày 15/12/2023, tại khu vực đồi thuộc bản M, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Lô Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,82 (Không phẩy tám hai) gam Heroine và 1,05 (Một phẩy không năm) gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo có 02 tiền án: Ngày 11/11/2002, Lô Văn Q bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 08 (T) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Ngày 27/6/2016, Lô Văn Q bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 (T) năm 06 (S) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, lần phạm tội trước đã thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tính đến lần phạm tội này Lô Văn Q chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên lần phạm tội này của Lô Văn Q tiếp tục thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

4

[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Lô Văn Q ở khu vực bản M, xã L, huyện T. Do Q không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.

[7] Xử lý vật chứng: 0,82g Heroine (đã lấy 0,2 đi giám định) và 1,05g Methamphetamine (đã lấy 0,2g đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lô Văn Q 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2023.
  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 20.12.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
  3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lô Văn Q.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 22/5/2024.

Nơi nhận :

  • - TAND, VKSND tỉnh NA;
  • - VKSND huyện Tương Dương;
  • - Công an huyện Tương Dương;
  • - UBND xã Lượng Minh;
  • - Bị cáo, Trại tạm giam;
  • - Người bào chữa;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Tương Dương;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Cường

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lô Văn Q- TTTPCMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger