|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-4-2024
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Hoàng và bà Nguyễn Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài– Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 502/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Tổ 10, ấp Long Hòa, xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Huỳnh Tấn A, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã C, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ D trình bày: Hôn nhân giữa chị D và anh A là do tự tìm hiểu và được gia đình hai bên đồng ý nên tiến đền hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long An theo giấy chứng nhận kết hôn số 08/2015 ngày 09/012015. Sau khi kết hôn anh chị sống ở xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh A thường xuyên cờ bạc, ăn nhậu và thường xuyên gây ra nợ, chị và gia đình có khuyên ngăn nhưng anh A vẫn không thay đổi nên anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay. Hai bên gia đình có hàn gắn nhưng không thành. Nay tình cảm không còn chị D yêu cầu xin ly hôn với anh Huỳnh Tấn A.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 01 (một) đứa con chung tên Huỳnh Tấn Lộc, sinh ngày 07/02/2015. Hiện cháu Huỳnh Tấn Lộc đang sống với chị D. Chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lộc, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Huỳnh Tấn A đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh A đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
Chị D có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 191, 192, 203 và Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị Trần Thị Mỹ D được ly hôn với anh Huỳnh Tấn A; về con chung: Đề nghị HĐXX giao đứa con chung cho chị D được tiếp tục nuôi dưỡng, anh A không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung chị D khai không có, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Trần Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Chị Trần Thị Mỹ D có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Tấn A có nơi cư trú tại tổ 5, ấp Vĩnh Lợi 1, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Huỳnh Tấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lộc.
Về nội dung:
[1] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ D và anh Huỳnh Tấn A kết hôn với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, theo chị D khai, do anh A thường xuyên cờ bạc, ăn nhậu và thường xuyên gây ra nợ chị và gia đình có khuyên ngăn nhưng anh A vẫn không thay đổi nên anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay. Hai bên gia đình có hàn gắn nhưng không thành. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh chị sống ly thân nhau, anh chị cũng không có thiện chí khắc phục những mâu thuẩn gia đình để vợ chồng đoàn tụ và kể từ ngày chị D nộp đơn xin ly hôn với anh A cho đến nay, anh A đã cố tình né tránh không đến tòa án để tham gia hòa giải cũng như tham dự phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã động viên chị D để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị D vẫn cương quyết ly hôn với anh A. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng anh chị không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 52; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xét, cho chị D được ly hôn với anh A.
[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 01 (một) đứa con chung tên Huỳnh Tấn Lộc, sinh ngày 07/02/2015. Hiện cháu Huỳnh Tấn Lộc đang sống với chị D. Chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lộc và cháu Lộc có nguyện vọng được sống với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi ly thân cho đến nay chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lộc và cháu Lộc cũng có nguyện vọng được sống với chị D. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và vì lợi ích của con HĐXX căn cứ vào các Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét, giao con chung cho chị D được quyền nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lộc trưởng thành và lao động được.
“Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; anh A có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị D không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh A.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa chị D khai vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do anh A vắng mặt nên HĐXX không xem xét về tài sản chung của anh chị. Nếu anh A chứng minh được vợ chồng có tài sản chung và yêu cầu chia tài sản chung thì anh có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Trần Thị Mỹ D phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ D.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ D được ly hôn với anh Huỳnh Tấn A.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 08/2015 ngày 09/012015 của UBND xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cấp cho chị Trần Thị Mỹ D và anh Huỳnh Tấn A không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Tấn Lộc, sinh ngày 07/02/2015 cho chị D được quyền nuôi dưỡng. Chị D tự nguyện nuôi con và không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số: 0007595 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
“Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ”.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Lan |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Mỹ D được ly hôn với anh Huỳnh Tấn A
