|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày: 22-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Hải.
- Ông Nguyễn Phú Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) và điểm cầu thành phần (Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ), Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Thị Kiều O (Minh K), sinh năm 2000, tại Đồng Tháp;
Nơi cư trú: Tổ B, khóm C, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Cha không rõ và con bà Huỳnh Thị Thu T (chết); Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt, tạm giam ngày 30/06/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Lê Sanh S, sinh năm 1999 (vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).
Nơi cư trú: Tổ 33, khóm D, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. - Phạm Mạnh T1, sinh năm 2004 (vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).
Nơi thường trú: Tổ 60, khóm M, Phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi ở: Tổ 39, khóm D, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. - Nguyễn Trần Anh T2 (Nguyễn Thái A), sinh năm 2003 (vắng mặt tại điểm cầu trung tâm). Nơi thường trú: Số G, đường L, khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở: Số B, đường Đ, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người hỗ trợ phiên tòa:
- Đại úy Dương Quốc N – Cán bộ, tổ trưởng.
- Hạ sĩ Lê Tuấn A1 – Chiến sĩ, thành viên.
- Hạ sĩ Nguyễn Thuận H – Chiến sĩ, thành viên.
- Hạ sĩ Huỳnh Duy K1 – Chiến sĩ, thành viên.
- Hạ sĩ Phạm Lê T3 – Chiến sĩ, thành viên.
Là cán bộ, chiến sỹ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Những người hỗ trợ phiên tòa có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Thị Kiều O mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sinh sống cùng bà ngoại tên Nguyễn Thị Ngọc T4 (hiện đã 80 tuổi) tại Tổ 22, Khóm C, Phường F, thành phố C. Bị cáo O trước đây có sử dụng ma túy nhưng đã nghỉ vào năm 2019 đến cuối tháng 05/2023 do buồn phiền chuyện tình cảm nên O đã tìm mua ma túy và chọn lúc bà ngoại không có nhà thì mang ma túy ra để sử dụng. Ngày 03/6/2023 O đến tỉnh Bình Dương tìm việc làm nhưng không tìm được việc và muốn sử dụng ma túy nên gặp một người nam tên M không rõ nhân thân địa chỉ hỏi mua 01 tép ma túy đá được cất giấu trong đoạn ống hút nhựa màu trắng với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, O mang về nhà tại địa chỉ nêu trên cất giấu nhưng chưa sử dụng.
Đến khoảng 09 giờ ngày 09/6/2023, O sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen điện thoại rủ Nguyễn Trần Anh T2, Phạm Mạnh T1 đến nhà uống bia, khi đi thì T1 có rủ thêm Lê Sanh S cùng đến nhà O để uống bia. Tại đây thì O trực tiếp rủ T2, T1 và S cùng sử dụng ma túy trước rồi đi uống bia sau thì cả 03 đồng ý. Sau đó, O mang ma túy đá đã mua trước đó đổ vào nỏ thủy tinh do O chuẩn bị, trực tiếp đốt nóng ma túy tan chảy rồi sử dụng, tiếp đến O đưa cho T1, T2 và S sử dụng, tất cả hút được 02 hơi thì Công an P, thành phố C tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện quả tang Huỳnh Thị Kiều O có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào lúc 10 giờ 30 phút cùng ngày, lúc này bà Nguyễn Thị Ngọc T4 không có mặt ở nhà. Công an P đã lập biên bản vi phạm và tạm giữ tại hiện trường các tang vật gồm: 01 chai nhựa loại chai nước suối, 01 cái nỏ thủy tinh và gắn 01 ống hút nhựa màu trắng bên trong nỏ có chứa tinh thể rắn màu trắng đục, 06 bật lửa dạng hột quẹt gas, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen của Huỳnh Thị Kiều O sử dụng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh của Lê Sanh S; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám của Phạm Mạnh T1, 01 điện thoại di động hiệu hiệu Iphone màu trắng vàng của Nguyễn Trần Anh T2, tất cả đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Công an P, thành phố C đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C để điều tra theo thẩm quyền.
- Tại bản kết luận giám định số 655/KL-KTHS, ngày 14/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, kết luận:
+ Tinh thể rắn màu trắng đục chứa trong 01 nỏ thủy tinh, được niêm phong trong bao thư màu trắng gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,095gam, loại Methamphetamine, đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
- Căn cứ Kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh xá Công an tỉnh Đ ngày 09/6/2023, kết quả: Huỳnh Thị Kiều O, Nguyễn Trần Anh T2, Phạm Mạnh T1, Lê Sanh S đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Thị Kiều O thừa nhận hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên, phù hợp với lời khai người sử dụng ma túy, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, sơ đồ, bản ảnh, biên bản hiện trường và các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án như nội dung đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKS-TPCL, ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Huỳnh Thị Kiều O về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Kiều O phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Kiều O với mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên đề nghị không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, biên bản, sơ đồ, bản ảnh, biên bản dựng lại hiện trường, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 03/6/2023 O đã mua 01 tép ma túy đá với số tiền 300.000 đồng đến ngày 09/6/2023 O sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen điện thoại rủ Phạm Mạnh T1, Nguyễn Trần Anh T2, Lê Sanh S đến nhà của O tại Tổ B, Khóm C, Phường F, thành phố C, tại đây O cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho T1, T2, S và bị cáo O cùng trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an P, thành phố C kiểm tra, phát hiện quả tang vào lúc 10 giờ 30 phút cùng ngày và thu giữ tang vật.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Tại căn nhà của O thuộc tổ B, Khóm C, Phường F, thành phố C kiểm tra, phát hiện bị cáo O có hành vi cung cấp chất ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy và sử dụng địa điểm là chỗ ở của O cho 03 người khác là T1, T2, S cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện quả tang, thu giữ tang vật.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- b) Đối với 02 người trở lên;
- ...”
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Người nghiện ma tuý chỉ biết sử dụng ma túy để thỏa mãn cho bản thân, không chăm sóc cho gia đình, ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng và ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt có ích cho xã hội, đồng thời, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone (X) màu đen của bị cáo Huỳnh Thị Kiều O sử dụng vào việc phạm tội.
- - Tịch thu tiêu hủy vật chứng sử dụng vào việc phạm tội, cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng gồm:
- + Mẫu tinh thể rắn màu trắng đục chứa trong 01 nỏ thủy tinh đã sử dụng hết cho công tác giám định. Ống hút nhựa màu trắng và nỏ thủy tinh gắn trên nắp chai nhựa màu đỏ được niêm phong trong bao thư, ghi “Niêm phong số: 652 ngày 09/6/2023” có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng K2 Công an tỉnh Đ và các chữ ký ghi họ tên: Lê Minh V, Lê Thanh B, Trần Văn N1 và Huỳnh Thị Kiều O.
- + 01 chai nhựa trong suốt, đã qua sử dụng
- + 06 cái bật lửa, đã qua sử dụng.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về các vấn đề khác:
- - Đối với Phạm Mạnh T1, Nguyễn Trần Anh T2, Lê Sanh S có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C chuyển hồ sơ, đồ vật có liên quan đến Công an P, thành phố C để xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Đối với người tên M bán trái phép chất ma túy cho bị cáo O không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể, chưa làm việc được nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Kiều O phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Kiều O 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:
- + Mẫu tinh thể rắn màu trắng đục chứa trong 01 nỏ thủy tinh đã sử dụng hết cho công tác giám định. Ống hút nhựa màu trắng và nỏ thủy tinh gắn trên nắp chai nhựa màu đỏ được niêm phong trong bao thư, ghi “Niêm phong số: 652 ngày 09/6/2023” có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng K2 Công an tỉnh Đ và các chữ ký ghi họ tên: Lê Minh V, Lê Thanh B, Trần Văn N1 và Huỳnh Thị Kiều O.
- + 01 chai nhựa trong suốt, đã qua sử dụng
- + 06 cái bật lửa, đã qua sử dụng.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/02/2024).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Huỳnh Thị Kiều O phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hiền |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Kiều O phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
