|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày: 21/08/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Hải Dương.
- Hội thẩm nhân dân: Ông: Lê Đắc Tỵ; Bà: Nguyễn Thanh Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà:
Ông: Nguyễn Trần Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 07 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa, đối với bị cáo:
Họ và tên: Mẫn Hoài N, sinh ngày 21/10/1993. Tại: L, Hòa Bình.
Nơi ĐKTT: thôn A, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Nơi ở hiện nay: thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mẫn Bá B, SN 1971; Con bà: Phạm Thị H, SN 1974; vợ: Hoàng Thị Tuyết N1, SN 1995; con: 04 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án: không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Tạm giữ: Từ ngày 15/12/2023 đến ngày 23/12/2023. Hiện bị cáo được tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Bùi Văn L, sinh năm 2005. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Chị Bùi Thị Hồng S, sinh năm 2003. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: thôn Đ, xã Ph, huyện L, tỉnh Hòa Bình - Chị Phạm Trà M, sinh năm 1995. (Vắng có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: thôn S, xã Ph, huyện L, tỉnh Hòa Bình - Anh Nguyễn Duy H1, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình - Chị Nguyễn Hồng H2, sinh năm 1987. (Vắng có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: khu E, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Bùi Văn D, sinh năm 1991. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Lương Ngọc D1, sinh năm 1990. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Chị Phạm Thị Quỳnh L1, sinh năm 1973. (Vắng mặt)
Trú tại: khu C, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2005. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn S, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Trịnh Trọng N2, sinh năm 2003. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Trịnh Tố T, sinh năm 1990. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Bùi Văn L, sinh năm 1994. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Chị Nguyễn Thùy L2, sinh năm 1994. (Có mặt)
Trú tại: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Quách Thanh C1, sinh năm 2002. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình, - Anh Bùi Văn Q, sinh năm 2002. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Lê Hữu T1, sinh năm 2006. (Vắng mặt) Người đại diện: ông Lê Mạnh H3, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Bùi Văn T2, sinh năm 2000. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Bùi Xuân C2, sinh năm 2006. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Bùi Văn Q1, sinh năm 1989. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Cháu Bạch Bá T3, sinh năm 2007. Người đại diện: Anh Bạch Bá T4, sinh năm 1976. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Trương Quốc K, sinh năm 2005. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Bùi Văn A, sinh năm 2004. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Bùi Đức N3, sinh năm 2006. (Vắng mặt)
Trú tại: khu V, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Đinh Trọng T5, sinh năm 2006 (Vắng mặt) – Người đại diện: bà Đinh Thị L3, sinh năm 1980. (Có mặt)
Trú tại: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1992. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình - Chị Bùi Thị H4, sinh năm 1973. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình - Ông Đinh Công M1, sinh năm 1972. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Chị Bùi Thị T6, sinh năm 1982. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Chị Quách Thị H5, sinh năm 1990. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Chị Bùi Thị V, sinh năm 1963. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Chị Bùi Thị D2, sinh năm 1970. (Có mặt)
Trú tại: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
* Người làm chứng:
- Anh Bùi Minh H6, sinh năm 2005. (Vắng mặt)
Trú tại: Xóm K, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Bùi Văn H7, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Bùi Ngọc H8, sinh năm 1967. (Vắng mặt)
Trú tại: khu V, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Chị Bùi Thị D3, sinh năm 1965. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1967. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình - Anh Bùi Anh T8, sinh năm 2006. (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Quách Chung T9, sinh ngày 30/8/2007. Người đại diện: Ông Quách Công T10. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Nguyễn Duy H9, sinh năm 2006. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Bùi Đức T11, sinh năm 2006. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. - Anh Đinh Văn L4, sinh năm 1998. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mẫn H lợi dụng việc đăng ký kinh doanh mua bán điện thoại di động, cầm đồ, hỗ trợ tài chính tại địa chỉ thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình để thực hiện hành vi cho vay lãi nặng đối với các cá nhân có nhu cầu vay tiền để chi tiêu cá nhân hoặc giải quyết công việc. Khi vay tiền N3 yêu cầu người vay phải để lại giấy tờ tùy thân, giấy đăng ký xe hoặc tài sản có giá trị để làm tin, có trường hợp N3 yêu cầu người vay phải ký vào giấy vay tiền do N3 viết sẵn, lãi suất được thỏa thuận bằng miệng; Thời hạn trả lãi 01 tháng (tương ứng 30 ngày) người vay phải trả một lần cho đến khi thanh toán xong khoản vay; Hình thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng M4 số tài khoản 333999968 của N3. Số tiền gốc không thỏa thuận ngày trả, nếu người vay trả ngày nào thì tiền lãi sẽ tính đến ngày tương ứng. Quá trình cho vay, thu tiền lãi, tiền gốc Nam tự lập hợp đồng vay, thế chấp và ghi chép vào sổ sách nội dung cho vay để theo dõi, quản lý, sử dụng số tiền gốc và tiền lãi khi thu về để chi tiêu sinh hoạt và quay vòng vốn cho người khác vay tiền.
Từ tháng 7/2023, N3 thuê Đinh Trọng T5, sinh ngày 15/6/2006, HKTT: thôn C, H, L, Hòa Bình với số tiền 4.000.000 đồng/tháng để giúp N3 bán hàng tại cửa hàng điện thoại di động và tìm người có nhu cầu vay tiền, cầm cố tài sản, giới thiệu việc cho vay, trao đổi mức lãi xuất, thu tiền lãi cho N3 và được N3 trả từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng đối với mỗi người vay.
Với phương thức, thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ tháng 2 năm 2022 đến ngày 14/12/2023, Mẫn Hoài N đã dùng tổng số tiền 195.000.000 đồng cho 23 cá nhân vay thông qua 37 giao dịch, với mức lãi suất thấp nhất từ 109%/năm đến 1.216,67%/năm, gấp từ 5,48 đến 60,83 lần mức lãi xuất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. N4 thu lợi bất chính số tiền là 111.443.620 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính thực tế đã thu được là 95.709.317 đồng.
Cụ thể như sau:
- Giao dịch với anh Bùi Văn L, sinh ngày 23/9/2005, trú tại: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình:
- Giao dịch với chị Bùi Thị Hồng S, sinh ngày 30/3/2003, trú tại: thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với chị Phạm Trà M, sinh ngày 27/9/1995, trú tại: Thôn S, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Nguyễn Duy H1, sinh ngày 04/7/1980, trú tại: thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với chị Nguyễn Hồng H2, sinh ngày 14/9/1987, trú tại: Khu E, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Lần thứ nhất, ngày 23/5/2023, M5 cho chị H2 vay số tiền 6.000.000 đồng. Tính đến ngày 23/7/2023 (2 tháng = 60 ngày), chị H2 đã trả Nam 2.400.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 6.667 đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 6.000.000 đồng x 60 ngày x 20%/365 ngày = 197.260 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 2.400.000 đồng – 197.260 đồng = 2.202.740 đồng.
- Chị H2 đã trả Nam 6.000.000 đồng tiền gốc.
- Lần thứ hai: Ngày 04/9/2023, Mẫn Hoài N cho chị H2 vay số tiền 6.000.000 đồng. Tính đến ngày 04/12/2023 (90 ngày), N đã thu 3.600.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 6.667 đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Chị H2 chưa trả tiền gốc 6.000.000 đồng cho N.
- Số tiền lãi tính theo mức lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 04/9/2023 đến 14/12/2023 (100 ngày) là 4.000.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 6.000.000 đồng x 100 ngày x 20%/365 ngày = 328.767 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 4.000.000 đồng – 328.767 đồng = 3.671.233 đồng.
- Lần thứ ba: Ngày 4/11/2023, Mẫn Hoài N cho chị H2 vay số tiền 10.000.000 đồng. Tính đến ngày 4/12/2023 (30 ngày), chị H2 đã trả cho N 1.500.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 5.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 182,5%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 9,13 lần. Chị H2 chưa trả tiền gốc 10.000.000 đồng cho N.
- Số tiền lãi tính theo mức lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 04/11/2023 đến 14/12/2023 (40 ngày) là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 10.000.000 đồng x 40 ngày x 20%/365 ngày = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 2.000.000 đồng – 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.
- Tổng hợp 03 lần vay: Tổng số tiền gốc N dùng để cho chị H2 là 22.000.000 đồng; chị H2 đã trả tiền gốc là 6.000.000 đồng, nợ lại tiền gốc 16.000.000 đồng; số tiền thu lợi bất chính là 7.654.795 đồng.
- Giao dịch với anh Bùi Văn D, sinh ngày 16/11/1991, trú tại: thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Lương Ngọc D1, sinh ngày 10/7/1990, trú tại: T, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với chị Phạm Thị Quỳnh L1, sinh ngày 01/11/1973, trú tại: Khu C, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 11/12/2005, trú tại: thôn S, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Trịnh Trọng N2, sinh năm 2003, trú tại: thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Trịnh Tố T, sinh ngày 27/5/1990, trú tại: thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Bùi Văn L, sinh năm 1994, HKTT: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với chị Nguyễn Thùy L2, sinh năm 1994, HKTT: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Lần thứ nhất: Ngày 19/3/2022, Mẫn Hoài N cho chị L2 vay số tiền 10.000.000 đồng. Tính đến ngày 19/4/2022 (30 ngày), N đã thu 1.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 3.333đồng/triệu/ngày, tương đương 121,67%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 6,08 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 10.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 164.384 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.000.000 đồng – 164.384 đồng = 835.616 đồng.
- Lần thứ hai: Ngày 21/3/2022, Mẫn Hoài N cho chị L2 vay số tiền 5.000.000 đồng. Tính đến ngày 11/12/2022 (270 ngày), N đã thu 5.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 4.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 146%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 7,3 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 5.400.000 đồng x 270 ngày x 20%/365 ngày = 739.726 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 5.400.000 đồng – 739.726 đồng = 4.660.274 đồng.
- Lần thứ ba: Ngày 07/6/2022, Mẫn Hoài N cho chị L2 vay số tiền 10.000.000 đồng. Tính đến ngày 7/7/2022 (30 ngày), N đã thu 1.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 3.333 đồng/triệu/ngày, tương đương 121,67%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 6,08 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 10.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 164.384 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.000.000 đồng – 164.384 đồng = 835.616 đồng.
- Lần thứ tư: Ngày 09/6/2022, M2 Hoài Nam tiếp tục cho chị Nguyễn Thùy L2 vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức trả góp trong vòng 6 tháng. Tính đến ngày 09/12/2022 (180 ngày), N đã thu 6.500.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 3.611 đồng/triệu/ngày, tương đương 131,81%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 6,59 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 10.000.000 đồng x 180 ngày x 20%/365 ngày = 986.301 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 6.500.000 đồng – 986.301 đồng = 5.513.699 đồng.
- Lần thứ năm: Ngày 09/7/2022, M2 Hoài Nam tiếp tục cho chị Nguyễn Thùy L2 vay số tiền 6.000.000 đồng. Tính đến ngày 09/12/2022 (150 ngày), N đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 3.333 đồng/triệu/ngày, tương đương 121,67%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 6,08 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 6.000.000 đồng x 150 ngày x 20%/365 ngày = 493.151 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 3.000.000 đồng – 493.151 đồng = 2.506.849 đồng.
- Lần thứ sáu: Ngày 06/9/2022, M2 Hoài Nam tiếp tục cho chị Nguyễn Thùy L2 vay số tiền 15.000.000 đồng, trả góp trong vòng 6 tháng. Đến tháng 11/2022 (02 tháng), N đã tính cho L2 tổng số tiền lãi của khoản vay là 13.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 527,22%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 26,36 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 15.000.000 đồng x 60 ngày x 20%/365 ngày = 493.151 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 13.000.000 đồng – 493.151 đồng = 12.506.849 đồng.
- Lần thứ bẩy (chốt nợ): Tháng 12/2022, M2 Hoài Nam thỏa thuận chốt các khoản nợ của chị L2 với số tiền 32.000.000 đồng. Đến tháng 4/2023 N đã tính lãi của khoản vay là 17.000.000 đồng cho 04 tháng, tương ứng với mức lãi suất 161,59%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 8,08 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 32.000.000 đồng x 120 ngày x 20%/365 ngày = 2.104.110 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 17.000.000 đồng – 2.104.110 đồng = 14.895.890 đồng.
- Lần thứ tám (chốt nợ): Tháng 4/2023, N thỏa thuận với chị L2 chốt các khoản nợ là 48.000.000 đồng, với lãi xuất là 5.000.000 đồng/tháng, tương đương lãi xuất 3.472 đồng/triệu/ngày, tương đương 126,74%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 gấp 6,34 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2023 (1 tháng = 30 ngày) là: 48.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 798.041 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 5.000.000 đồng – 798.041 đồng = 4.210.959 đồng.
- Từ tháng 6/2023 đến tháng 7/2023 giữa N và L2 đã thỏa thuận thanh toán toàn bộ tiền gốc, lãi của khoản nợ và không tính tiền lãi, chi tiết thanh toán như sau: Lần 1 Linh trả 2.000.000 đồng; lần 2 anh T5 chồng L2 trả 10.000.000 đồng; lần 3 chị L2 bán lại cho N chiếc xe mô tô BKS 28L1 - 147.52 với giá 23.000.000 đồng và N khấu trừ cho L2 số tiền 13.000.000 đồng.
- Tổng hợp 08 lần vay, trong đó có 02 lần chột nợ: Tổng số tiền gốc N dùng để cho chị L2 vay là 56.000.000 đồng; L2 đã trả đủ tiền gốc; Số tiền thu lợi bất chính là 45.965.752 đồng.
- Giao dịch với anh Quách Thanh C1, sinh năm 2002, HKTT: thôn L - P - L - Hòa Bình.
- Lần thứ nhất: Ngày 05/11/2023, Mẫn Hoài N cho C1 cắm xe mô tô BKS 26F1 - 8775 vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 05/12/2023 (30 ngày), N đã thu 450.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 5.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 182,5%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 9,13 lần. Anh C1 đã trả N 3.000.000 đồng tiền gốc.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 3.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 49.315 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 450.000 đồng – 49.315 đồng = 400.685 đồng.
- Lần thứ hai: Ngày 06/12/2023, Mẫn Hoài N cho anh C1 cắm xe mô tô BKS 28B1 - 331.18 vay số tiền 7.000.000 đồng, thỏa thuận số tiền lãi đến ngày 16/12/2023 (10 ngày) là 400.000 đồng, tương đương mức lãi xuất 5.714 đồng/triệu/ngày, tương đương 208,57%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 gấp 10,43 lần. Anh C1 chưa trả tiền gốc và lãi của khoản vay cho N.
- Số tiền lãi tính theo lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 06/12/2023 đến 14/12/2023 (8 ngày) là 320.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 7.000.000 đồng x 8 ngày x 20%/365 ngày = 30.685 đồng. Số tiền nhằm thu lợi bất chính là: 320.000 đồng – 30.685 đồng = 289.315 đồng.
- Tổng hợp 02 lần vay: Tổng số tiền gốc N dùng để cho anh C1 vay là 10.000.000 đồng; anh C1 đã trả tiền gốc là 3.000.000 đồng, nợ lại tiền gốc 7.000.000 đồng; số tiền nhằm thu lợi bất chính là 690.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính thực tế đã thu được là 400.685 đồng.
- Giao dịch với anh Bùi Văn Q, sinh năm 2002, HKTT: thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Ngày 11/5/2023, Mẫn Hoài N cho anh Bùi Văn L vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 11/11/2023 (180 ngày), N đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 5.556 đồng/triệu/ngày, tương đương 202,78%/ năm gấp 10,14 lần mức lãi xuất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Số tiền lãi hợp pháp là: 3.000.000 đồng x 180 ngày x 20%/365 ngày = 295.890 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 3.000.000 đồng – 295.890 đồng = 2.704.110 đồng.
Anh L đã trả N 3.000.000 đồng tiền gốc.
Ngày 16/6/2023, Mẫn Hoài N cho chị Bùi Thị Hồng S vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 16/11/2023, chị S đã trả Nam 3.300.000 đồng tiền lãi của 5 tháng (150 ngày), tương đương 7.333 đồng/triệu/ngày, tương đương 267,67%/năm gấp 13,38 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Đến ngày 14/12/2023, chị S chưa trả tiền gốc là 3.000.000 cho N.
Số tiền lãi chị S phải trả cho Nam tính theo mức lãi xuất thỏa thuận trong thời hạn từ 16/6/2023 đến 14/12/2023 (178 ngày) là 3.916.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp là: 3.000.000 đồng x 178 ngày x 20%/365 ngày = 292.603 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 3.916.000 đồng – 292.603 đồng = 3.623.397 đồng.
Ngày 24/5/2023, Mẫn Hoài N cho chị Phạm Trà M vay số tiền 6.000.000 đồng. Tính đến ngày 24/11/2023 (6 tháng), chị M đã trả 7.200.000 đồng tiền lãi cho N, tương đương 6.667đồng/triệu/ngày, tương đương lãi suất là 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Tính đến ngày 14/12/2023, M chưa trả tiền gốc 6.000.000 đồng cho N.
Số tiền lãi tính theo mức lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 24/5/2023 đến 14/12/2023 (200 ngày) là 8.000.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 6.000.000 đồng x 200 ngày x 20%/365 ngày = 657.534 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 8.000.000 đồng – 657.534 đồng = 7.342.466 đồng.
Ngày 05/6/2023, Mẫn Hoài N cho anh Nguyễn Duy H1 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 3.000đồng/triệu/ngày, tương đương lãi suất là 109,50%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 5,48 lần. Tính đến ngày 05/10/2023 (120 ngày), N đã thu 3.600.000 đồng tiền lãi.
Số tiền lãi hợp pháp là: 10.000.000 đồng x 120 ngày x 20%/365 ngày = 657.534 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 3.600.000 đồng – 657.534 đồng = 2.942.466 đồng.
Anh H1 đã trả N 10.000.000 đồng tiền gốc.
Ngày 02/6/2023, Mẫn Hoài N cho anh Bùi Văn D vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 02/12/2023 (180 ngày), N đã thu 3.600.000 đồng tiền lãi, tương ứng lãi suất 6.667đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh D chưa trả tiền gốc 3.000.000 đồng cho N.
Số tiền lãi tính theo lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 02/6/2023 đến 14/12/2023 (192 ngày) là 3.840.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 3.000.000 đồng x 192 ngày x 20%/365 ngày = 315.616 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 3.840.000 đồng – 315.616 đồng = 3.524.384 đồng.
Ngày 15/10/2023, Mẫn Hoài N cho anh Lương Ngọc D1 vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 15/11/2023 (30 ngày), N đã thu 600.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 6.667 đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh D1 chưa trả tiền gốc 3.000.000 đồng cho N.
Số tiền lãi tính theo lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 15/10/2023 đến 14/12/2023 (59 ngày) là 1.180.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 3.000.000 đồng x 59 ngày x 20%/365 ngày = 96.986 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.180.000 đồng – 96.986 đồng = 1.083.014 đồng.
Ngày 26/5/2023, Mẫn Hoài N cho chị Phạm Thị Quỳnh L1 vay số tiền 6.000.000 đồng. Tính đến ngày 26/11/2023 (180 ngày), N đã thu 5.750.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 5.324đồng/triệu/ngày, tương đương 194,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 9,72 lần. Chị L1 chưa trả tiền gốc 6.000.000 đồng cho N.
Số tiền lãi tính theo lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 26/5/2023 đến 14/12/2023 (202 ngày) là 6.452.778 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 6.000.000 đồng x 202 ngày x 20%/365 ngày = 664.110 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 6.452.778 đồng – 664.110 đồng = 5.788.668 đồng.
Ngày 24/6/2023, Mẫn Hoài N cho anh C vay số tiền 7.000.000 đồng. Tính đến ngày 24/7/2023 (30 ngày), N đã thu 1.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 4.762đồng/triệu/ngày, tương đương 173,81%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 8,69 lần. Anh C đã trả N 7.000.000 đồng tiền gốc.
Số tiền lãi hợp pháp là: 7.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 115.068 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 1.000.000 đồng – 115.068 đồng = 884.932 đồng.
Ngày 21/6/2023, Mẫn Hoài N cho anh N2 vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 21/11/2023 (150 ngày), N đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 6.667đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh N2 chưa trả tiền gốc 3.000.000 đồng cho N.
Số tiền lãi tính theo lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 21/6/2023 đến 14/12/2023 (173 ngày) là 3.460.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 3.000.000 đồng x 173 ngày x 20%/365 ngày = 284.384 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 3.460.000 đồng – 284.384 đồng = 3.175.616 đồng.
Ngày 14/6/2023, Mẫn Hoài N cho anh T vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 14/11/2023 (tương ứng 150 ngày), N đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, tương ứng lãi suất 6.667đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh T chưa trả tiền gốc 3.000.000 đồng cho N.
Số tiền lãi tính theo lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 14/6/2023 đến 14/12/2023 (180 ngày) là 3.600.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 3.000.000 đồng x 180 ngày x 20%/365 ngày = 295.890 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 3.600.000 đồng – 295.890 đồng = 3.304.110 đồng.
Ngày 09/11/2023, Mẫn Hoài N cho anh L vay số tiền 10.000.000 đồng. Tính đến ngày 09/12/2023 (tương ứng 30 ngày), N đã thu 1.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 3.333đồng/triệu/ngày, tương đương 121,67%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 6,08 lần. Anh L đã trả N 10.000.000 đồng tiền gốc.
Số tiền lãi hợp pháp là: 10.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 164.384 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.000.000 đồng – 164.384 đồng = 835.616 đồng.
Ngày 18/5/2023, Mẫn Hoài N cho Q vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 18/11/2023 (180 ngày), N đã thu 3.600.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 6.667 đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh Q chưa trả tiền gốc là 3.000.000 đồng cho N.
Số tiền lãi tính theo lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 18/5/2023 đến 14/12/2023 (210 ngày) là 4.200.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 4.200.000 đồng x 210 ngày x 20%/365 ngày = 345.205 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 4.200.000 đồng – 345.205 đồng = 3.854.795 đồng.
* Đối với hành vi của Đinh Trọng T5 đã giới thiệu và thỏa thuận lãi suất, nhắc nợ, thu tiền lãi của 08 người khách vay, với tổng số tiền gốc là 47.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 18.069.499 đồng. Trong đó T5 đã thu tổng số tiền lãi cho N là 31.700.000 đồng, tiền gốc T5 đã thu về cho N là 9.800.000 đồng và được N trả số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng đối với mỗi khách vay, cụ thể như sau:
- Giao dịch với anh Lê Hữu T1, sinh năm 2006, HKTT: thôn R - P - L - Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Bùi Văn T2, sinh năm 2000, trú tại: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Lần thứ nhất: Ngày 08/9/2023, Mẫn Hoài N cho anh T2 vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 08/10/2023 (30 ngày), N đã thu 600.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 6.667 đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh T2 đã trả N 3.000.000 đồng tiền gốc.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 3.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 49.315 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 600.000 đồng – 49.315 đồng = 550.685 đồng.
- Lần thứ hai: Ngày 24/10/2023, Mẫn Hoài N cho anh T2 vay số tiền 3.000.000 đồng.Tính đến ngày 24/12/2023 (60 ngày), N đã thu 1.200.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 6.667 đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh T2 đã trả N 3.000.000 đồng tiền gốc.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 3.000.000 đồng x 60 ngày x 20%/365 ngày = 98.630 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.200.000 đồng – 98.630 đồng = 1.101.370 đồng.
- Tổng hợp 2 lần vay: Tổng số tiền gốc N dùng cho anh T2 vay là 6.000.000 đồng; đã trả tiền gốc là 6.000.000 đồng; Số tiền thu lợi bất chính là 4.405.479 đồng.
- Giao dịch với anh Bùi Xuân C2, sinh năm 2006, HKTT: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Lần thứ nhất: Ngày 19/10/2023, Mẫn Hoài N cho anh C2 vay số tiền 4.000.000 đồng. Tính đến ngày 19/11/2023 (30 ngày), N đã thu 600.000 đồng tiền lãi, tương ứng lãi suất 5.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 182,5%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 9,13 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 4.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 65.753 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 600.000 đồng – 65.753 đồng = 534.247 đồng.
- Lần thứ hai: ngày 20/11/2023, Mẫn Hoài N cho anh C2 vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 20/12/2023 (30 ngày), N đã thu 400.000 đồng tiền lãi, tương ứng lãi suất 4.444 đồng/triệu/ngày, tương đương 162,22%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 8,11 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 3.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 49.315 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 400.000 đồng – 49.315 đồng = 350.685 đồng.
- Lần thứ ba: ngày 22/11/2023 Mẫn Hoài N cho anh C2 vay số tiền 6.000.000 đồng. Tính đến ngày 22/12/2023 (30 ngày), N đã thu 800.000 đồng tiền lãi, tương ứng lãi suất 4.444 đồng/triệu/ngày, tương đương 162,22%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 8,11 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 6.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 98.630 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 800.000 đồng – 98.630 đồng = 701.370 đồng.
- Lần thứ tư: ngày 26/11/2023, Mẫn Hoài N cho anh C2 vay số tiền 6.000.000 đồng, với lãi suất 4.444đồng/triệu/ngày, 01 tháng trả lãi một lần, tương đương lãi suất là 162,22%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 8,11 lần. Tính đến ngày 26/12/2023 (tương ứng 30 ngày), N đã thu 800.000 đồng tiền lãi.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 6.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 98.630 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 800.000 đồng – 98.630 đồng = 701.370 đồng.
- Lần thứ năm: ngày 09/12/2023, Mẫn Hoài N cho anh C2 vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 08/01/2024 (30 ngày), N đã thu 400.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 4.444 đồng/triệu/ngày, tương đương lãi suất là 162,22%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 8,11 lần.
- Số tiền lãi hợp pháp là: 3.000.000 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 49.315 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 400.000 đồng – 49.315 đồng = 350.685 đồng.
- Bà Bùi Thị H4 là mẹ của C2 đã bỏ tiền ra trả cho N toàn bộ tiền gốc C2 đã vay.
- Tổng hợp 3 khoản vay: Tổng số tiền gốc N đã dùng cho anh C2 vay là 22.000.000 đồng; đã trả tiền gốc là 22.000.000 đồng; Số tiền thu lợi bất chính là 2.638.357 đồng.
- Giao dịch với anh Bùi Văn Q1, sinh năm 1989, HKTT: thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Bạch Bá T3, sinh năm 2007, HKTT: thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Trương Quốc K, sinh năm 2005, HKTT: thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Bùi Văn A, sinh năm 2004, HKTT: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Giao dịch với anh Bùi Đức N3, sinh năm 2006, HKTT: khu V, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Lần thứ nhất: Ngày 08/8/2023, Mẫn Hoài N cho anh Bùi Đức N3 vay số tiền 3.000.000 đồng, thỏa thuận lãi xuất 600.000 đồng/tháng, tương đương 6.667 đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh N3 đã trả 200.000 tiền lãi và chưa trả tiền gốc 3.000.000 đồng.
- Số tiền lãi trong khoảng thời gian từ 08/8/2023 đến 14/12/2023 (126 ngày) là: 2.520.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 3.000.000 đồng x 126 ngày x 20%/365 ngày = 207.123 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 2.520.000 đồng – 207.123 đồng = 2.312.877 đồng.
- Lần thứ hai: ngày 13/8/2023, Mẫn Hoài N tiếp tục cho anh Bùi Đức N3 vay số tiền 3.000.000 đồng, thỏa thuận lãi xuất 600.000 đồng/tháng, tương đương 6.667 đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh N3 đã trả 200.000 tiền lãi và chưa trả tiền gốc 3.000.000 đồng cho N3. Anh N3 đã trả lãi 200.000 đồng và nợ tiền gốc là 3.000.000 đồng.
- Số tiền lãi trong khoảng thời gian từ 18/8/2023 đến 14/12/2023 (121 ngày) là: 2.420.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 3.000.000 đồng x 121 ngày x 20%/365 ngày = 198.904 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 2.420.000 đồng – 198.904 đồng = 2.221.096 đồng.
Ngày 25/10/2023, Mẫn Hoài N cho anh T1 vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 14/12/2023, anh T1 đã trả cho N số tiền lãi của 02 tháng là 1.200.000 đồng, tương đương lãi suất 6.667 đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh T1 chưa trả tiền gốc là 3.000.000 đồng cho N.
Số tiền lãi hợp pháp là: 3.000.000 đồng x 60 ngày x 20%/365 ngày = 98.630 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 1.200.000 đồng – 98.630 đồng = 1.101.370 đồng.
Ngày 02/8/2023 Mẫn Hoài N cho anh Q1 vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 02/10/2023 (60 ngày), N đã thu 1.200.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 6.667 đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh Q1 đã trả N 3.000.000 đồng tiền gốc.
Số tiền lãi hợp pháp là: 3.000.000 đồng x 60 ngày x 20%/365 ngày = 98.630 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.200.000 đồng – 98.630 đồng = 1.101.370 đồng.
Ngày 01/9/2023 Mẫn Hoài N cho anh T3 vay số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 01/10/2023 (30 ngày), N đã thu 600.000 đồng tiền lãi, tương đương với lãi suất 6.667đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh T3 chưa trả tiền gốc 3.000.000 đồng cho N.
Số tiền lãi tính theo lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 01/9/2023 đến 14/12/2023 (104 ngày) là 2.080.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp là: 3.000.000 đồng x 104 ngày x 20%/365 ngày = 170.959 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 2.080.000 đồng – 170.959 đồng = 1.909.041 đồng.
Ngày 03/9/2023, Mẫn Hoài N cho anh K vay số tiền 1.000.000 đồng, thỏa thuận tiền lãi 15 ngày là 500.000 đồng, tương ứng với lãi suất 1.216,67%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 60,83 lần. K đã thanh toán cho N 700.000 đồng tiền gốc và 400.000 đồng tiền lãi, còn nợ lại 400.000 đồng tiền gốc.
Số tiền lãi trên số tiền gốc nợ lại tính theo mức lãi xuất thỏa thuận trong khoảng thời gian từ 03/9/2023 đến 14/12/2023 (100 ngày) là: 400.000 đồng x 1216,67% x 100 ngày/365 ngày= 1.333.333 đồng. Số tiền lãi hợp pháp tính trên tiền gốc nợ lại trong khoảng thời gian tương ứng là: 400.000 đồng x 100 ngày x 20%/365 ngày = 54.795 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 1.333.333 đồng– 54.795 đồng = 1.278.538 đồng.
Ngày 18/5/2023, anh Bùi Văn A cầm cố đăng ký xe mô tô mang tên Bùi Thị T6, sinh năm 1982, HKTT: thôn K - H - L - Hòa Bình để vay Mẫn Hoài Nam số tiền 3.000.000 đồng. Tính đến ngày 18/7/2023 (60 ngày), N đã thu 1.200.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 6.667đồng/triệu/ngày, tương đương 243,33%/ năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 12,17 lần. Anh Bùi Văn A chưa trả tiền gốc 3.000.000 đồng cho N.
Số tiền lãi trong khoảng thời gian từ 18/5/2023 đến 14/12/2023 (210 ngày) là: 4.200.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp trong khoảng thời gian tương ứng là: 3.000.000 đồng x 210 ngày x 20%/365 ngày = 345.205 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 4.200.000 đồng – 345.205 đồng = 3.854.795 đồng.
Phương pháp tính lãi được quy định tại Khoản 1, Điều 5, Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Thống đốc Ngân hàng N5; Văn bản số 77/TTGSNH ngày 22/12/2023 và văn bản số 47/TTGSNH ngày 11/4/2024 của Ngân hàng N5 chi nhánh tỉnh H trả lời về việc xác nhận kết quả tính lãi suất và số tiền thu lợi bất chính của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L.
Cáo trạng số: 25/CT-VKSND-LT ngày 24/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện L, tỉnh Hòa Bình truy tố Mẫn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự (BLHS).
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với quá trình điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt là chị Nguyễn Thùy L2 xác nhận quá trình vay, trả nợ như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Bùi Thị D2 đề nghị được trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô BKS 28L1-146.88 mang tên Bùi Thị D2, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Chị Đinh Thị L3 là người đại diện hợp pháp của anh Đinh Trọng T5 không có đề nghị gì, nhất trí với nội dung bản cáo trạng đã nêu về hành vi của Đinh Trọng T5.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình trình bày bản luận tội, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- + Áp dụng: khoản 2 điều 201; điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Mẫn Hoài N từ 12 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo.
- + Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
- + Về trách nhiệm dân sự:
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tuấn A1 (chồng của L2) xác nhận không liên quan đến việc chị L2 vay tiền của N, không yêu cầu chị L2 trả số tiền anh Tuấn A1 đã thanh toán cho N, nên không đề nghị xem xét giải quyết.
+ Chị Bùi Thị H4 (mẹ của Bùi Xuân C2) không yêu cầu C2 trả số tiền chị đã thanh toán cho N, nên không đề nghị xem xét giải quyết.
+ Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 47, điều 48 BLHS; điều 106 BLTTHS; Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Buộc bị cáo Mẫn Hoài N phải nộp lại số tiền gốc đã thu của những người vay tiền là 126.700.000 đồng và số tiền lãi tương ứng ức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 mà bị cáo đã thu được của người vay là 12.390.683 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Bảo lưu số tiền: 20.000.000 đồng của bị cáo N để đảm bảo thi hành án.
Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp lại số tiền gốc đã vay nhưng chưa trả cho bị cáo Mẫn Hoài N để sung công quỹ Nhà nước với tổng số tiền: 68.300.000 đồng.
Buộc bị cáo Mẫn Hoài N phải trả lại số tiền thu lợi bất chính đã thu cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với tổng số tiền: 95.709.317 đồng.
+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tuyên:
- - Giao lại 01 xe mô tô BKS 28L1-117.43; 01 xe mô tô BKS 28G1-300.88; 01 mô tô BKS 28F1-6470 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 002000 của xe mô tô BKS 28F1-6470 mang tên chủ xe Đỗ Kim L5, sinh năm 1961, địa chỉ: thôn B, C, L, Hòa Bình cho CQ CSĐT Công an huyện L quản lý để tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc của xe để xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Trả lại xe mô tô BKS 28L1-147.52 cho Mẫn Hoài N.
- - Trả lại 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus; I phone 6S, Iphone XS, Iphone X, Iphone XR cho Mẫn Hoài N.
- - Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax, 01 điện thoại Iphone 8 Plus là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
- - Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 063607 của xe mô tô BKS 28H1-523.63 mang tên chủ xe Bùi Thị T6, sinh năm 1982, địa chỉ: thôn K, H, L, Hòa Bình; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013719 của xe mô tô BKS 28L1-174.04 mang tên chủ xe Quách Thị H5, sinh năm 1990, địa chỉ: thôn K, H, L, Hòa Bình; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 010223 của xe mô tô BKS 28L1-146.88 mang tên chủ xe Bùi Thị D2, sinh năm 1970, địa chỉ: thôn C, Đ, L, Hòa Bình; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 36.000040 của xe mô tô BKS 36C2-195.44 mang tên chủ xe Bùi Văn H10, sinh năm 2005, địa chỉ: L, Y, Y, Thanh Hóa là giấy tờ cá nhân của những người bị cáo cho vay tiền, được thu giữ tại nhà bị cáo. Xét những giấy tờ này là giấy tờ cá nhân của những người vay tiền của bị cáo, được thu giữ tại nhà bị cáo đề nghị giao cho Cơ quan thi hành án dân sự huyện L để trả lại cho những cá nhân liên quan.
- - Đối với 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự số 13/GCN do Công an huyện L cấp ngày 12/10/2023; 01 Biên bản kiểm tra cơ sở kinh doanh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT do Công an huyện L lập ngày 01/11/2023; 01 tập hồ sơ theo dõi quản lý hoạt động phòng cháy, chữa cháy của hộ kinh doanh M6; 01 tập phương án phòng cháy, chữa cháy của hộ kinh doanh M6; 01 biên bản thẩm định về ANTT đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện do Công an huyện L lập ngày 11/10/2023; 01 biên bản kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ do Công an huyện L lập ngày 05/10/2023; 01 phiếu lý lịch tư pháp số 2 số 2708/STP-LLTP do Giám đốc Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình cấp ngày 8/9/2023 thu giữ trong quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo Mẫn Hoài N không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
- + Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.
- - Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn, hối lỗi và hứa sửa chữa lỗi lầm, mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, VKSND huyện Lạc Thuỷ, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không làm ảnh hưởng tới việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án. Căn cứ vào Điều 292 của BLTTHS, HĐXX tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh và khung hình phạt:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ tháng 2 năm 2022 đến ngày 14/12/2023, Mẫn Hoài N đã lợi dụng việc đăng ký kinh doanh mua bán điện thoại di động, cầm đồ, hỗ trợ tài chính tại địa chỉ thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình dùng tổng số tiền 195.000.000 đồng cho 23 cá nhân vay với mức lãi suất từ 3.000 đồng đến 33.000 đồng/triệu/ngày, tương đương từ 109,5%/năm đến 1.216,67%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 từ 5,48 đến 60,83 lần. N4 thu lợi bất chính số tiền là 111.443.620 đồng (Một trăm mười một triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm hai mươi đồng), trong đó số tiền thu lợi bất chính thực tế đã thu được là 95.709.317 đồng (Chín mươi lăm triệu bẩy trăm linh chín nghìn ba trăm mười bẩy đồng).
Bị cáo là người có năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do muốn thu lời bất chính từ việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 điều 201 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra Cơ quan Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tự nguyện giao nộp một phần số tiền thu lời bất chính tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy để khắc phục hậu quả. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 BLHS.
[4] Xét về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và trực tiếp xâm phạm đến lợi ích công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, cần xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Tuy nhiên, HĐXX xét thấy trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, biết ăn năn hối cải, nên HĐXX căn cứ Điều 65 BLHS; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP quy định về điều kiện cho người bị kết án phạt tù cho người được hưởng án treo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 15/5/2018; Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tuấn A1 (chồng của L2) xác nhận không liên quan đến việc chị L2 vay tiền của N, không yêu cầu chị L2 trả số tiền anh Tuấn A1 đã thanh toán cho N, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
+ Chị Bùi Thị H4 (mẹ của Bùi Xuân C2) không yêu cầu C2 trả số tiền chị đã thanh toán cho N, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[6] Xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[7] Biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền gốc 195.000.000 đồng mà bị cáo dùng để cho vay lãi nặng là công cụ, phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước, trong đó:
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền gốc mà bị cáo Mẫn Hoài N đã thu của những người vay tiền là 126.700.000 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền gốc của những người vay tiền chưa trả cho bị cáo Mẫn Hoài N, cụ thể: anh Trương Quốc K 300.000 đồng; anh Bùi Văn A 3.000.000 đồng; anh Bạch Bá T3 3.000.000 đồng; anh Lê Hữu T1 3.000.000 đồng; anh Quách Thanh C1 7.000.000 đồng; anh Bùi Đức N3 6.000.000 đồng; chị Bùi Thị Hồng S 3.000.000 đồng; chị Phạm Trà M 6.000.000 đồng; chị Nguyễn Hồng H2 16.000.000 đồng; anh Bùi Văn D 3.000.000 đồng; anh Lương Ngọc D1 3.000.000 đồng; anh Bùi Văn Q 3.000.000 đồng; chị Phạm Thị Quỳnh L1 6.000.000 đồng; anh Trịnh Trọng N2 3.000.000 đồng; anh Trịnh Tố T 3.000.000 đồng.
Đối với số tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 mà bị cáo đã thu được của người vay là 12.390.683 đồng, tuy không xác định trách nhiệm hình sự nhưng là tiền phát sinh từ hành vi phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với số tiền lãi thu lời bất chính, buộc bị cáo Mẫn Hoài N phải trả cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể: anh Trương Quốc K 345.205 đồng, anh Bùi Xuân C2 2.638.357 đồng, anh Bùi Văn A 854.795 đồng, anh Bạch Bá T3 số tiền: 429.041 đồng, anh Bùi Văn Q1 số tiền: 1.101.370 đồng, anh Lê Hữu T1 số tiền: 1.101.370 đồng, anh Quách Thanh C1 số tiền: 400.685 đồng, anh Bùi Văn L (thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình) số tiền: 835.616 đồng, chị Nguyễn Thùy L2 số tiền: 45.965.752 đồng, anh Bùi Văn L số tiền: 2.704.110 đồng, chị Bùi Thị Hồng S số tiền: 3.007.397 đồng, chị Phạm Trà M3 số tiền: 6.542.466 đồng, anh Nguyễn Duy H1 số tiền: 2.942.466 đồng, chị Nguyễn Hồng H2 số tiền: 6.754.795 đồng, anh Bùi Văn D số tiền: 3.284.384 đồng, anh Lương Ngọc Dân s tiền: 503.014 đồng, anh Bùi Văn Q số tiền: 3.254.795 đồng, chị Phạm Thị Quỳnh L1 số tiền: 5.085.890 đồng, anh Nguyễn Mạnh C số tiền: 884.932 đồng, anh Trịnh Trọng N2 số tiền: 2.715.616 đồng, anh Bùi Văn T2 số tiền: 1.652.055 đồng, anh Trịnh Tố T số tiền: 2.704.110 đồng.
[8] Về các nội dung khác:
Quá trình điều tra: Mẫn Hoài N còn khai nhận cho 4 người vay tổng số tiền 68.500.000đ với lãi xuất từ 2.000/triệu/ngày đến 5.000/triệu/ngày gồm: anh Bùi Văn H10; sinh năm 2005, HKTT: thôn L - Y - Y - Thanh Hóa; chị Quách Thị H5, sinh năm 1990, HKTT: thôn K - H - L - Hòa Bình; anh Đinh Văn L4, sinh năm 1998, HKTT: thôn K - H - L - Hòa Bình; chị Bùi Thị V, sinh năm 1963, HKTT: thôn B - T - L - Hòa Bình. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập làm việc với những người liên quan, tuy nhiên những người trên không có mặt tại địa phương, hiện tại không biết ở đâu do vậy chưa đủ căn cứ xác định những người này vay tiền của N. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp, nên HĐXX xét thấy là phù hợp.
Đối với Đinh Trọng T5 là người giúp sức Mẫn Hoài N thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với 08 người với số tiền 47.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 18.069.499 đồng. Hành vi của T5 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T5 về hành vi giúp sức trong hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay chưa vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định định của BLDS, HĐXX xét thấy là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với Bùi Minh H6, sinh năm 2005, trú tại: Xóm K, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình là người được M2 Hoài Nam thuê với số tiền 1.500.000 đồng/tháng, quá trình điều tra cơ quan CSĐT xác định H6 không giúp sức cho Mẫn Hoài N trong việc thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan CSĐT không đề cập xử lý, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Mẫn Hoài N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định tại điều 331 BLTTHS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố: Bị cáo Mẫn Hoài N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Áp dụng khoản 2 điều 201; điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 BLHS xử phạt bị cáo M2 Hoài Nam 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Mẫn Hoài N cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Mẫn Hoài N số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ điều 47, điều 48 BLHS; điều 106 BLTTHS; Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
2.1. Truy thu của bị cáo Mẫn Hoài N số tiền gốc là 126.700.000 (Một trăm hai mươi sáu triệu bẩy trăm nghìn) đồng để sung ngân sách nhà nước.
2.2. Truy thu số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất của Bộ luật Dân sự năm 2015 mà bị cáo Mẫn Hoài N đã thu được của người vay là 12.390.683 (Mười hai triệu ba trăm chín mươi nghìn sáu trăm tám mươi ba) đồng để sung ngân sách nhà nước.
2.3. Bảo lưu số tiền: 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng của bị cáo N đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình để đảm bảo thi hành án. Toàn bộ số tiền là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng đã được giao nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy theo biên lai thu tiền số: 0001190 ngày 19/7/2024.
2.4. Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã vay số tiền gốc nhưng chưa thanh toán cho bị cáo M2 Hoài Nam phải nộp để sung ngân sách nhà nước, cụ thể:
- + Anh Trương Quốc K phải nộp: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng
- + Anh Bùi Văn A phải nộp: 3.000.000 (Ba triệu) đồng
- + Anh Bạch Bá T3 phải nộp: 3.000.000 (Ba triệu) đồng
- + Anh Lê Hữu T1 phải nộp: 3.000.000 (Ba triệu) đồng
- + Anh Quách Thanh C1 phải nộp: 7.000.000 (Bẩy triệu) đồng
- + Anh Bùi Đức N3 phải nộp: 6.000.000 (Sáu triệu) đồng
- + Chị Bùi Thị Hồng S phải nộp: 3.000.000 (Ba triệu) đồng
- + Chị Phạm Trà M3 phải nộp: 6.000.000 (Sáu triệu) đồng
- + Chị Nguyễn H11 phải nộp: 16.000.000 (Mười sáu triệu) đồng
- + Anh Bùi Văn D phải nộp: 3.000.000 (Ba triệu) đồng
- + Anh Lương Ngọc D1 phải nộp: 3.000.000 (Ba triệu) đồng
- + Anh Bùi Văn Q phải nộp: 3.000.000 (Ba triệu) đồng
- + Chị Phạm Thị Quỳnh L1 phải nộp: 6.000.000 (Sáu triệu) đồng
- + Anh Trịnh Trọng N2 phải nộp: 3.000.000 (Ba triệu) đồng
- + Anh Trịnh Tố T phải nộp: 3.000.000 (Ba triệu) đồng
2.5. Buộc bị cáo Mẫn Hoài N phải trả lại những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền thu lời bất chính, cụ thể:
- + Trả anh Trương Quốc K: 345.205 (Ba trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm linh năm) đồng.
- + Trả anh Bùi Xuân C2: 2.638.357 (Hai triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn ba trăm năm mươi bẩy) đồng.
- + Trả anh Bùi Văn A số tiền: 854.795 (Tám trăm năm mươi bốn nghìn bẩy trăm chín mươi lăm) đồng.
- + Trả anh Bạch Bá T3: 429.041 (Bốn trăm hai mươi chín nghìn không trăm bốn mươi mốt) đồng.
- + Trả anh Bùi Văn Q1: 1.101.370 (Một triệu một trăm linh một nghìn ba trăm bẩy mươi) đồng.
- + Trả anh Lê Hữu T1: 1.101.370 (Một triệu một trăm linh một nghìn ba trăm bẩy mươi) đồng.
- + Trả anh Quách Thanh C1 số tiền: 400.685 (Bốn trăm nghìn sáu trăm tám mươi lăm) đồng.
- + Trả anh Bùi Văn L (thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình) số tiền: 835.616 (Tám trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu) đồng.
- + Trả chị Nguyễn Thùy L2: 45.965.752 (Bốn mươi lăm triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn bẩy trăm năm mươi hai) đồng.
- + Trả anh Bùi Văn L: 2.704.110 (Hai triệu bẩy trăm linh bốn nghìn một trăm mười nghìn) đồng.
- + Trả anh Bùi Thị Hồng S: 3.007.397 (Ba triệu không trăm linh bẩy nghìn ba trăm chín mươi bẩy) đồng.
- + Trả chị Phạm Trà M3: 6.542.466 (Sáu triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng.
- + Trả anh Nguyễn Duy H1: 2.942.466 (Hai triệu chín trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng.
- + Trả chị Nguyễn Hồng H2: 6.754.795 (Sáu triệu bẩy trăm năm mươi bốn nghìn bẩy trăm chín mươi lăm) đồng.
- + Trả anh Bùi Văn D: 3. 284.384 (Ba triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn ba trăm tám mươi bốn) đồng.
- + Trả anh Lương Ngọc D1: 503.014 (Năm trăm linh ba nghìn không trăm mười bốn) đồng.
- + Trả anh Bùi Văn Q số tiền: 3.254.795 (Ba triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn bẩy trăm chín mươi lăm) đồng.
- + Trả chị Phạm Thị Quỳnh L1: 5.085.890 (Năm triệu không trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi) đồng.
- + Trả anh Nguyễn Mạnh C: 884.932 (Tám trăm tám mươi bốn nghìn chín trăm ba mươi hai) đồng.
- + Trả anh Trịnh Trọng N2: 2.715.616 (Hai triệu bẩy trăm mười lăm nghìn sáu trăm mười sáu) đồng.
- + Trả anh Bùi Văn T2 số tiền: 1.652.055 (Một triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi lăm) đồng.
- + Trả anh Trịnh Tố T số tiền: 2.704.110 (Hai triệu bẩy trăm linh bốn nghìn một trăm mười) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS:
- - Giao lại 01 xe mô tô Honda, màu trắng, loại xe Wave, BKS 28L1-117.43 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Honda, màu trắng sữa, loại xe Vision, BKS 28G1-300.88 đã quan sử dụng cho CQ CSĐT Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình quản lý để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Giao lại xe mô tô BKS 28F1-6470 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 002000 của xe mô tô BKS 28F1-6470 mang tên chủ xe Đỗ Kim L5, sinh năm 1961, địa chỉ: thôn B, C, L, Hòa Bình cho CQ CSĐT Công an huyện L quản lý để tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc của xe để xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Trả lại xe mô tô BKS 28L1-147.52 cho Mẫn Hoài N.
- - Trả lại 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus; 01 điện thoại Iphone 6S, 01 điên thoại Iphone XS, 01 điện thoại Iphone X, 01 điện thoại Iphone XR cho Mẫn Hoài N.
- - Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax, 01 điện thoại Iphone 8 Plus của bị cáo Mẫn Hoài N.
- - Giao cho Cơ quan thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Hòa Bình trả lại:
- + 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 063607 của xe mô tô BKS 28H1-523.63 mang tên chủ xe Bùi Thị T6, sinh năm 1982, địa chỉ: thôn K, H, L, Hòa Bình cho chị Bùi Thị T6;
- + 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013719 của xe mô tô BKS 28L1-174.04 mang tên chủ xe Quách Thị H5, sinh năm 1990, địa chỉ: thôn K, H, L, Hòa Bình cho chị Quách Thị H5;
- + 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 010223 của xe mô tô BKS 28L1-146.88 mang tên chủ xe Bùi Thị D2, sinh năm 1970, địa chỉ: thôn C, Đ, L, Hòa Bình cho chị Bùi Thị D2;
- + 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 36.000040 của xe mô tô BKS 36C2-195.44 mang tên chủ xe Bùi Văn H10, sinh năm 2005, địa chỉ: L, Y, Y, Thanh Hóa cho anh Bùi Văn H10.
- - Trả lại cho bị cáo Mẫn Hoài N: 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự số 13/GCN do Công an huyện L cấp ngày 12/10/2023; 01 Biên bản kiểm tra cơ sở kinh doanh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT do Công an huyện L lập ngày 01/11/2023; 01 tập hồ sơ theo dõi quản lý hoạt động phòng cháy, chữa cháy của hộ kinh doanh M6; 01 tập phương án phòng cháy, chữa cháy của hộ kinh doanh M6; 01 biên bản thẩm định về ANTT đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện do Công an huyện L lập ngày 11/10/2023; 01 biên bản kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ do Công an huyện L lập ngày 05/10/2023; 01 phiếu lý lịch tư pháp số 2 số 2708/STP-LLTP do Giám đốc Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình cấp ngày 8/9/2023.
(Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Mẫn Hoài N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Vũ Hải Dương |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
