|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/DS-ST Ngày: 21 - 8 - 2024 V/v Tranh chấp đòi lại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Chí Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Liêu Tài Ngoánh
- Ông Huỳnh Tài Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXX-ST ngày 02/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Thạch Kim H, Sinh năm 1951
Địa chỉ: ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Ông Trần H1, Sinh năm 1966
Địa chỉ: ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 4 năm 2024 cũng như tại phiên toà sơ thẩm của nguyên đơn ông Thạch Kim H trình bày:
Vào ngày 01/02/2013 (Dương lịch) ông Thạch Kim H cho ông Trần H1 vay số tiền là 5.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích chi xài sinh hoạt gia đình. Ông H1 có hứa sẽ trả dần cho ông, do ông H1 là người cùng xóm. có lập biên nhận nợ. Qua thời gian dài chưa thấy ông H2 trả tiền nên ông H có yêu cầu ông H1 trả, ông H1 trả 03 lần tổng số tiền là 1.500.000 đồng vào các ngày 14/6/2018 trả được 500.000 đồng, ngày 08/10/2018 trả được 500.000 đồng, ngày 01/02/2019 trả được 500.000 đồng. Đến nay ông H1 chưa trả hết mà còn nợ số tiền 3.500.000 đồng. Nay ông thấy ông H1 có đủ khả năng trả nợ nhưng ông H1 không chịu trả. Do đó ông khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Trần H1 trả số tiền 3,500.000 đồng.
Theo bị đơn ông Trần H1 trình bày: Ông có vay tiền của ông H, thời gian vay thì ông H1 không nhớ rõ, chỉ nhớ là cách nay hơn 10 năm là trước năm 2014. Ông hậu thừa nhận có vay tiền của ông Thạch Kim H là người cùng xóm với ông số tiền vay là 5.000.000 đồng, ông H1 dùng vào việc sinh hoạt gia đình, ông H1 và ông H có làm giấy vay tiền viết tay ông và ông H cùng ký tên. Sau đó ông H1 có trả dần cho ông H nhiều lần cộng chung số tiền lại khoảng 6.000.000 đồng. ông H2 xác định là đã trả tiền vốn lẫn lãi cho ông H xong. Nay không còn nợ.
Ông H1 xác định đã trả tiền cho ông H nhiều lần, có lần 500.000 đồng và 1.000.000 đồng nhưng ông H1 không nhớ cụ thể từng lần trả, ông H1 đã trả số tiền là 6.000.000 đồng là trả tiền vốn lẫn lãi đã xong. Việc trả từng lần ông H thì ông H1 không có ghi nhận vào sổ hay ghi nhận vào giấy tờ nào. Khi trả là đưa tiền cho ông H nhận, ông chỉ nhớ rồi cộng chung lại bằng số tiền 6.000.000 đồng.
Nay ông Thạch Kim H yêu cầu ông H1 trả số tiền vay còn nợ chưa trả là 3.500.000 đồng, ông H1 không đồng ý trả.
Quan điểm kiểm sát của đại diện Viện kiểm sát như sau:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng với các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Qua chứng cứ và kết quả tranh tụng tại tòa có đủ cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Căn cứ khoan 2 Điều 92 BLTTDS 2015 quy định về những tình tiết, sự kiện đương sự không phải chứng minh.
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, khi những tình tiết, sự kiện mà đương sự đưa ra để chứng minh cho yêu cầu của mình được các đương sự thừa nhận.
Bị đơn nhận được thông báo của Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Bị đơn không yêu cầu phản tố, không cung cấp tài liệu, chứng cứ ý kiến về việc ông H yêu cầu.
Quan hệ tranh chấp giữa ông Thạch Kim H và ông Trần H1 là “Tranh chấp đòi lại tài sản"
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Trần H1 thanh toán cho ông Thạch Kim H số tiền là 3.500.000 đồng.
Về án phí dân sự có giá ngạch: Ông Trần H1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Thạch Kim H thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng Toà án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo mở phiên hoà giải và công khai tài liệu chứng cứ, triệu tập tham gia phiên toà nguyên đơn, bị đơn ông Trần H1 là quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản là đúng theo Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Thạch Kim H khởi kiện tranh chấp đòi tài sản với bị đơn ông Trần H1, ông Trần H1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, T, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, nên đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thời hiệu khởi kiện: Các bên đương sự không đặt ra yêu cầu về thời hiệu. Toà án thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp đòi lại tài sản theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu này.
[2] Tại phiên toà nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Trần H1 trả số tiền là 3.500.000 đồng. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Thạch Kim H với các bị đơn ông Trần H1 thừa nhận có xác lập biên nhận nợ ghị ngày 01/02/2013 (Dương lịch) nội dung ông Trần H1 vay tiền của ông Thạch Kim H số tiền là 5.000.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xác định sự việc ông Thạch Kim H và ông Trần H1 có vay tiền và lập biên nhận nợ là có thật. Theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy việc các đương sự có việc vay tiền. Do vậy ông Thạch Kim H yêu cầu ông Trần H1 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền 3.500.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với lời trình bày của ông Trần H1 vào khoảng trước năm 2014 giữa ông và ông Thạch Kim H có xác lập biên nhận nợ để vay số tiền 5.000.000 đồng.
Về số tiền ông H1 xác định đã trả cho ông H nhiều lần, tổng số tiền đã trả là 6.000.000 đồng nhưng ông không có tài liệu, chứng cứ nào chứng mình việc ông đã trả số tiền này. Ông H xác định ông H1 chỉ trả cho ông số tiền 03 lần bằng số tiền 1.500.000 đồng.
Xét thấy bị đơn thừa nhận có vay tiền của ông H nhưng ông H1 không có tài liêu, chứng cứ đã trả khoảng nợ này. Vì vậy, việc thừa nhận của ông H1 có vay nợ ông H xác định có nhận tiền của ông H1 có trả được số tiền là 1.500.000 đồng. Hội đồng xét xử buộc ông Trần H1 có trách nhiệm trả cho ông Thạch Kim H số tiền 3.500.000 đồng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần H1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch 300.000 đồng. Ông Thạch Kim H không phải chịu án phí dân sự, ông Thạch Kim H thuộc diện người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí.
[5] Về ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 Bộ luật dân sự 2015; Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Thạch Kim H yêu cầu ông Trần H1 trả nợ.
- Buộc ông Trần H1 thanh toán cho ông Thạch Kim H số tiền 3.500.000 đồng ( Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với phản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Trần H1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự là 300.000 đồng.
Ông Thạch Kim H không phải chịu án phí, ông H thuộc diện người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu ; - VKSND huyện Hòa Bình ; - Chi cục THADS huyện Hòa Bình ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Chí Tâm |
Bản án số 31/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 31/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ông Thạch Kim Hương, Sinh năm 1951 Địa chỉ: ấp thị trấn A1, thị trấn Hoà Bình, huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu. - Bị đơn: Ông Trần Hậu, Sinh năm 1966 Địa chỉ: ấp thị trấn A1, thị trấn Hoà Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.