Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÔNG CỐNG

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 21-6-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Vân và ông Lê Minh Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Doãn Phương Liên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Đình H, sinh ngày 07 tháng 12 năm 1996 tại xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình H1, sinh năm 1969; con bà Lê Thị B, sinh năm 1973, cả bố và mẹ hiện sinh sống tại xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo có vợ là Trịnh Thu P, sinh năm 1999, hiện sinh sống tại xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có 03 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 12/01/2024 chuyển tạm giam, đến ngày 05/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Kiều Tùng L, sinh năm 1999
  2. Địa chỉ: Phố M, xã V, huyện N, Thanh Hóa.

  3. Anh Lê Văn H2, sinh năm 1996
  4. Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện N, Thanh Hóa.

  5. Anh Lê Đình T, sinh năm 1997
  6. Địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện N, Thanh Hóa.

  7. Anh Lê Vũ B1, sinh năm 1996
  8. Địa chỉ: thôn N, xã V, huyện N, Thanh Hóa.

  9. Anh Lê Đức Q, sinh năm 1996
  10. Địa chỉ: thôn T, xã V, huyện N, Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt anh L, anh H2, anh T, anh B1 và anh Q (đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Đình H, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa mở cửa hàng kinh doanh giống cây trồng, hoa, cây cảnh và phân bón, vật tư nông nghiệp tại địa chỉ thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa do chị Hoàng Thị H3 (là chị ruột của H hiện đang sinh sống Thị xã L, tỉnh Bình Thuận) đứng tên chủ cơ sở kinh doanh. Quá trình sinh sống tại địa phương, Hoàng Đình H có mối quan hệ quen biết với anh Kiều Tùng L, sinh năm 1999, trú tại phố M, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; anh Lê Văn H2, sinh năm 1996 trú tại thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; anh Lê Đình Tân s năm 1997 trú tại thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; anh Lê Vũ B1 sinh năm: 1996 trú tại thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và anh Lê Đức Q sinh năm: 1996 trú tại thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Lợi dụng việc anh Kiều Tùng L; anh Lê Văn H2; anh Lê Đình T; anh Lê Vũ B1 và anh Lê Đức Q có nhu cầu vay vốn để làm ăn, kinh doanh hoặc chi tiêu cá nhân, Hoàng Đình H đã cho những người kể trên vay tiền dưới hình thức vay tín chấp không cầm cố tài sản. T1 từng khách hàng vay, mức độ thân quen và thời điểm vay, Hoàng Đình H yêu cầu mức lãi suất phải trả dao động từ 3.000 đồng – 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày (tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm đến 182,5%/năm) hoặc 10%/tháng (tương ứng bởi mức lãi suất 120%/năm), tiền lãi được trả theo kỳ 30 ngày trả lãi 01 lần, khi vay tiền H sẽ cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi và đưa cho người vay số tiền gốc sau khi đã trừ đi kỳ trả lãi đầu tiên. Nếu trường hợp khách vay không có thỏa thuận và ngày trả nợ thì khi nào khách vay trả hết tiền gốc và tiền lãi thì được xem là tất toán gói vay. Hoàng Đình H sử dụng hình thức giao dịch qua tài khoản ngân hàng và giao dịch đưa tiền mặt trực tiếp tại nhà để cho vay, nhận tiền lãi, thu tiền gốc từ anh Kiều Tùng L, Lê Văn H2, Lê Đình T, Lê Vũ B1 và Lê Đức Q. Giao dịch qua tài khoản ngân hàng, H sử dụng số tài khoản 0781000480173 mở tại Ngân hàng V chi nhánh T2. Số tài khoản này sử dụng thông tin cá nhân của Hoàng Đình H để đăng ký mở tài khoản, sử dụng số điện thoại 0842.121.xxx làm số điện thoại Internetbanking và nhận mã OTP.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và xác định 05 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (tính đến ngày phát hiện hành vi phạm tội là ngày 06/01/2024), cụ thể như sau:

1. Anh Kiều Tùng L, sinh năm 1999, trú tại phố M, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền các lần cụ thể như sau:

  • - Ngày 21/01/2022 Anh L đã vay của H số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) dưới hình thức vay tín chấp không để lại tài sản cầm cố, với lãi xuất là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, trả lãi theo kỳ 30 ngày trả lãi một lần với số tiền là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng). khi vay tiền H cắt lãi trước 750.000 đồng, H đưa anh L số tiền là 4.250.000 đồng. Anh L trả lãi cho H đến ngày 23/7/2022 với tổng số tiền là 4.080.000 đồng.

  • - Đến ngày 08/08/2022, anh L đặt vấn đề vay thêm của H số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cũng với hình thức vay là mức lãi suất như trên. Lần vay tiền này H cũng cắt lãi trước 30 ngày với số tiền là 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và trừ đi 800.000 đồng tiền lãi anh L nợ H (liên quan đến khoản vay 5.000.000 đồng), H đưa anh L số tiền là 1.750.000 đồng. Thời điểm này anh L vay của H 02 gói vay với tổng số tiền là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). H yêu cầu anh L trả lãi từ tháng tiếp theo với lãi suất là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày.

  • - Ngày 21/8/2022 anh L đặt vấn đề vay của H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cũng với hình thức vay và mức lãi suất như trên. Khi vay tiền H trừ đi tiền lãi 30 ngày là 750.000 đồng và trừ đi tiền lãi anh L nợ H là 1.300.000 đồng (liên quan đến khoản vay 8.000.000 đồng), H đưa anh L số tiền là 2.950.000 đồng. Thời điểm này anh L vay của H 03 gói vay với tổng số tiền là 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng), H yêu cầu anh L trả lãi từ tháng tiếp theo với lãi suất là 5.000 đồng/01 triệu /01 ngày.

  • - Ngày 04/9/2022 anh L đặt vấn đề vay của H số tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cũng với hình thức vay và mức lãi suất như trên. Khi vay tiền H trừ đi tiền lãi 30 ngày là 300.000 đồng và trừ đi tiền lãi anh L nợ H là 500.000 đồng (liên quan đến khoản vay 13.000.000 đồng), H đưa anh L số tiền là 1.200.000 đồng. Thời điểm này anh L vay của H 04 gói vay với tổng số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), H yêu cầu anh L trả lãi từ tháng tiếp theo với lãi suất là 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày, anh L trả lãi cho H 01 tháng với số tiền là 1.800.000 đồng.

  • - Ngày 11/11/2022, anh L đặt vấn đề vay của H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cũng với hình thức vay tín chấp không để lại tài sản cầm cố và mức lãi suất H yêu cầu anh L phải trả là 4000 đồng/01 triệu/01 ngày. Khi vay tiền H trừ đi tiền lãi 30 ngày là 600.000 đồng, H đưa anh L số tiền là 4.400.000 đồng. Thời điểm này anh L vay của H 05 gói vay với tổng số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), H yêu cầu anh L trả lãi từ tháng tiếp theo với lãi suất là 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày, sau đó H có giảm lãi cho anh L thành 10%/tháng. Anh L trả lãi cho H đến ngày 15/5/2023 với tổng số tiền là 9.700.000 đồng, anh L nợ lại 3.000.000 đồng tiền lãi.

  • - Ngày 24/5/2023, anh L đặt vấn đề vay của H số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cũng với hình thức vay tín chấp không để lại tài sản thể cầm cố và mức lãi suất H yêu cầu anh L phải trả là 10%/tháng. Khi vay tiền H trừ đi tiền lãi 01 tháng là 1.000.000 đồng và tiền lãi anh L nợ H là 3.000.000 đồng (liên quan đến khoản vay 20.000.000đ), H đưa anh L số tiền là 6.000.000 đồng. Thời điểm này anh L vay của H 06 gói vay với tổng số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), H yêu cầu anh L trả lãi từ tháng tiếp theo với lãi suất là 10%/tháng, mỗi tháng trả 3.000.000 đồng. Anh L đã trả lãi cho H đến ngày 17/12/2023 với tổng số tiền lãi là 17.700.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền lãi H đã thu của anh L là 42.530.000đ. Trong đó số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20% là 7.150.685 đồng, đã thu lợi bất chính 35.379.315 đồng.

2. Anh Lê Văn H2, sinh năm 1996, trú tại thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, cụ thể các lần vay:

  • Gói vay 1: Ngày 05/6/2022, anh H2 vay của H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), H yêu cầu anh H2 trả lãi suất là 4.000 đồng/triệu/ngày. Khi nhận tiền, H cắt trước tiền lãi 01 tháng đầu tiên của anh H2 với số tiền là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), đồng thời thỏa thuận chu kỳ trả lãi là 30 ngày. Mỗi tháng trả số tiền lãi là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Ngày 07/6/2022 anh H2 tiếp tục vay của H số tiền 10.000.000 đồng, H cũng cắt trước số tiền lãi là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Đến ngày 03/7/2022 anh H2 chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho H số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để tất toán gói vay này.

  • Gói vay 2: Ngày 07/7/2022, anh H2 vay của H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), H yêu cầu anh H2 trả lãi suất là 4.000 đồng/triệu/ngày. Khi nhận tiền, H cắt trước tiền lãi 01 tháng đầu tiên với số tiền là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), đồng thời thỏa thuận chu kỳ trả lãi là 30 ngày. Mỗi tháng trả số tiền lãi là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Ngày 13/7/2022 anh H2 tiếp tục vay của H số tiền 10.000.000 đồng, anh H2 bị cắt trước số tiền lãi là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Ngày 07/8/2022 anh H2 chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng số tiền 11.200.000 đồng (Mười một triệu hai trăm nghìn đồng), số tiền này là tiền anh H2 trả tiền gốc 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền lãi. Ngày 11/8/2022 anh H2 tiếp tục vay tiếp của H số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), H cũng cắt trước tiền lãi là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Đến ngày 20/8/2022 anh H2 chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho H số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để tất toán gói vay này.

  • Gói vay 3: Ngày 21/8/2022, anh H2 vay của H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), H yêu cầu anh H2 trả lãi suất là 4.000 đồng/triệu/ngày. H cắt trước tiền lãi 01 tháng đầu tiên của anh H2 với số tiền là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), đồng thời thỏa thuận chu kỳ trả lãi là 30 ngày. Mỗi tháng trả số tiền lãi là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau đó các ngày 23/8/2022; 24/8/2022 và 29/8/2022, mỗi ngày anh H2 vay thêm của H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và đều bị cắt lãi trước số ti ền là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Ngày 21/9/2022 anh H2 chuyển khoản cho H số tiền 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) để trả tiền lãi. Ngày 22/9/2022 anh H2 chuyển khoản cho H số tiền 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) để trả tiền lãi. Ngày 22/9/2022 anh H2 chuyển khoản cho H số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để trả tiền gốc. Ngày 22/9/2022 anh H2 tiếp tục vay thêm của H số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), sau đó do không cần sử dụng nữa anh H2 chuyển khoản trả lại cho H số tiền là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) trong đó có 2.000.000 tiền gốc mới vay và 7.000.000 đồng tiền gốc của gói vay trước đấy. Ngày 24/9/2022 và 25/9/2022 mỗi ngày anh H2 vay thêm của H số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và đều bị cắt lãi trước số tiền là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Đến ngày 25/9/2022 thì anh H2 chuyển khoản cho H số tiền là 29.000.000 đồng (Hai mươi chín triệu đồng) để tất toán toàn bộ gói vay này, số tiền còn thiếu thì H cho anh H2, không yêu cầu anh H2 phải trả.

  • Gói vay 4: Anh H2 vay của H tổng cộng 05 lần với số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), H yêu cầu anh H2 phải trả lãi suất là 4000 đồng/01 triệu/01 ngày, tiền lãi được trả theo kỳ 30 ngày/lần, khi vay tiền H cắt trước tiền lãi của kỳ đầu tiên. Cụ thể như sau:

    • Ngày 05/10/2022, anh H2 vay của H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với hình thức vay và mức lãi suất như trên. Khi nhận tiền, H cắt trước tiền lãi 01 kỳ đầu tiên với số tiền là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) và đưa cho anh H2 số tiền 8.800.000 đồng qua hình thức chuyển khoản. Sau đấy cứ mỗi kỳ (30 ngày) anh H2 phải trả cho H số tiền lãi là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).

    • Các ngày 17/10/2022, 31/10/2022, 04/11/2022, anh H2 tiếp tục vay thêm của H 03 lần nữa với số tiền từng lần là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), H yêu cầu anh H2 phải trả lãi suất và hình thức trả lãi như trên, mỗi lần vay H đều cắt tiền lãi của 01 kỳ là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), số tiền anh H2 thực nhận của từng lần vay là 8.800.000 đồng.

    • Đến khoảng ngày 15/6/2023, anh H2 tiếp tục vay của H số tiền 10.000.000 đồng với hình thức vay và mức lãi suất như trên, lần này H đưa tiền mặt trực tiếp cho anh H2 số tiền 8.800.000 đồng.

    Quá trình vay tiền gói vay này thì anh H2 đóng lãi cho H bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của H, cụ thể anh H2 đã đóng lãi như sau:

    • Đối với gói vay ngày 05/10/2022 và 17/10/2022, anh H2 đã tiếp tục trả lãi cho H 09 kỳ với tổng số tiền lãi của từng lần vay là 10.800.000 đồng, tuy nhiên anh H2 mới chuyển khoản cho H số tiền 9.600.000 đồng (tương ứng 08 kỳ) và nợ lại tiền lãi của 01 kỳ của từng lần vay là 1.200.000 đồng.

    • Đối với gói vay ngày 31/10/2022 và 04/11/2022, anh H2 đã tiếp tục trả lãi cho H 08 kỳ với tổng số tiền lãi của từng lần vay là 9.600.000 đồng, tuy nhiên anh H2 mới chuyển khoản cho H số tiền 8.400.000 đồng (tương ứng 07 kỳ) và nợ lại tiền lãi của 01 kỳ của từng lần vay là 1.200.000 đồng.

    • Đối với gói vay ngày 15/6/2023, anh H2 đã tiếp tục trả lãi cho H 01 kỳ với số tiền lãi là 1.200.000 đồng.

    Quá trình trả lãi cho H thì anh H2 không trả đúng kỳ hạn thỏa thuận với H mà mà khi nào có tiền thì anh H2 sẽ chuyển khoản trả tiền lãi cho H và H cũng đồng ý với việc trả lãi này. Đến ngày 15/8/2023, anh H2 đã trả lại toàn bộ số tiền 50.000.000 đồng đã vay của H bằng hình thức trả tiền mặt trực tiếp và tất toán gói vay.

  • Gói vay 5: Ngày 24/10/2023 anh H2 vay của H số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), H yêu cầu anh H2 phải trả lãi suất là 10%/tháng, trả lãi theo kỳ 30 ngày/01 lần mỗi kỳ anh H2 trả 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Khi vay tiền H trừ luôn tiền lãi anh H2 còn nợ lại của gói vay 4 là 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng) và tiền lãi của gói vay này là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), tuy nhiên H giảm cho anh H2 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lãi, chỉ yêu cầu anh H2 phải trả 1.200.000 đồng tiền lãi cho kỳ đầu tiên nên H đã chuyển cho anh H2 số tiền là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng). Sau đó đến kỳ trả lãi tiếp theo thì anh H2 nói với H là hiện nay không còn khả năng trả lãi và xin được trả gốc thì H đồng ý không yêu cầu anh H2 trả lãi nữa mà chỉ yêu cầu anh H2 trả lãi số tiền gốc đã vay. Tuy nhiên đến nay anh H2 vẫn chưa trả lại số tiền gốc đã vay.

Như vậy tổng số tiền lãi H đã thu của anh H2 là 49.200.000đ. Trong đó số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20% là 6.821.918 đồng, đã thu lợi bất chính 42.378.082 đồng.

3. Anh Lê Đình T, sinh năm 1997, trú tại thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã vay các lần cụ thể như sau:

  • Gói vay 1: Ngày 23/5/2023 Anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần. H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 750.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.250.000 đồng (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Cùng ngày 23/5/2023, anh T đã trả số tiền gốc là 5 triệu đồng cho H bằng hình thức đưa tiền mặt và tất toán gói vay với H.

  • Gói vay 2: Ngày 27/5/2023 Anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 750.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.250.000 đồng (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Ngày 15/6/2023, anh T chuyển khoản trả cho anh H số tiền gốc của khoản vay này là 750.000 đồng; đến ngày 17/6/2023, anh T tiếp tục chuyển khoản trả cho H số tiền gốc còn lại là 4.250.000 đồng; gói vay này anh T đã trả hết tiền gốc và tất toán gói vay với H.

  • Gói vay 3: Anh T vay của H tổng cộng 08 lần, cụ thể như sau:

    • Ngày 16/7/2023, anh T vay anh H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 750.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.250.000 đồng (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 17/7/2023, anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 750.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.250.000 đồng (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 18/7/2023, anh T vay H 02 lần với tổng số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 1.500.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng), chuyển khoản làm 02 lần qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 21/7/2023, anh T vay H 02 lần với tổng số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 1.500.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng), chuyển khoản làm 02 lần qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 24/7/2023, anh T vay H 03 lần với tổng số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 2.250.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 12.750.000 đồng (mười hai triệu bảy trăm năm trăm nghìn đồng), chuyển khoản làm 03 lần qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 02/8/2023, anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 750.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.250.000 đồng (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 03/8/2023, anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 750.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.250.000 đồng (bốn để triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 04/8/2023, anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 750.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.250.000 đồng (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    Như vậy: Tổng số tiền mà anh T vay trong gói vay này là 60.000.000 đồng.

    Ngày 20/7/2023 Anh T chuyển khoản trả cho H số tiền gốc là 10.000.000 đồng cho lần vay ngày 16/7/2023 (lần thứ 01) và lần vay ngày 17/7/2023 (lần thứ 02). Ngày 18/08/2023 anh T chuyển khoản cho H số tiền 5.000.000 đồng và đưa tiền mặt cho H số tiền 5.000.000 đồng để trả tiền gốc cho lần vay ngày 18/7/2023 (lần thứ 03). Ngày 19/8/2023, anh T tiếp tục chuyển khoản cho H số tiền 15.000.000 đồng và đưa tiền mặt cho H số tiền 25.000.000 đồng để trả tiền gốc cho các lần vay ngày 21, 24/7/2023 (lần thứ 04, 05) và lần vay ngày 02, 03, 04/8/2023 (lần thứ 06, 07, 08). Gói vay này anh T đã trả hết tiền gốc và tất toán gói vay với H.

  • Gói vay 4: Anh T vay của H tổng cộng 07 lần, cụ thể như sau:

    • Ngày 18/8/2023 Anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 750.000 đồng, ngoài ra do gói vay vào ngày 18/7/2023 anh T đã trả tiền gốc chậm (theo kỳ thì đến ngày 16/8/2023 anh T phải trả tiền lãi hoặc gốc cho H) nên H đã yêu cầu anh T phải trả thêm 750.000 đồng tiền lãi, số tiền lãi này H cắt trực tiếp vào gói vay. Vì vậy, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 19/8/2023, anh T vay H 02 lần với tổng số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 1.500.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng), chuyển khoản làm 02 lần qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 21/8/2023, anh T vay H số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 1.500.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 22/8/2023, anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 750.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.250.000 đồng (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 23/8/2023, anh T vay H số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 1.500.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 24/8/2023, anh T vay H 05 lần với tổng số tiền là 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 5.400.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 39.600.000 đồng (ba mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng), chuyển khoản làm 05 lần qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 26/8/2023, anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 600.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    Như vậy: Tổng số tiền mà anh T vay trong gói vay này là 90.000.000 đồng.

    Ngày 30/8/2023, anh T chuyển khoản cho H số tiền 20.000.000 đồng và đưa tiền mặt cho H số tiền 70.000.000 đồng để trả tiền gốc đã vay của H. Gói vay này anh T đã trả hết tiền gốc và tất toán gói vay với H.

  • Gói vay 5: Sau khi tất toán gói vay thứ 04, anh T tiếp tục vay của H tổng cộng 05 lần, cụ thể như sau:

    • Ngày 30/8/2023, anh T vay H 04 lần với tổng số tiền là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 4.800.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 35.200.000 đồng (ba mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng), chuyển khoản 04 lần qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 01/9/2023, anh T vay H số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 1.200.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 02/9/2023, anh T vay H 02 lần với tổng số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 2.400.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 17.600.000 đồng (mười bảy triệu sáu trăm nghìn đồng), chuyển khoản làm 02 lần qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 03/9/2023, anh T vay H số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 1.200.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    • Ngày 15/9/2023, anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 600.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

    Như vậy: Tổng số tiền mà anh T vay trong gói vay này là 85.000.000 đồng.

    Ngày 25/9/2023, anh T đưa tiền mặt cho H số tiền 85.000.000 đồng để trả tiền gốc đã vay của H. Gói vay này anh T đã trả hết tiền gốc và tất toán gói vay với H.

  • Gói vay 6: Sau khi tất toán gói vay thứ 05, anh T tiếp tục vay của H tổng cộng 01 lần, cụ thể như sau:

    • Ngày 15/10/2023, anh T vay H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), H yêu cầu anh T phải trả lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi phải đóng trước theo kỳ 30 ngày/1 lần; H cắt lãi trước 01 kỳ tiền lãi đầu tiên là 600.000 đồng, H chỉ đưa cho anh T số tiền là 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) bằng hình thức đưa tiền mặt trực tiếp. Ngày 15/11/2023, anh T đóng tiền lãi kỳ tiếp theo (kỳ thứ 2) cho anh H với số tiền lãi là 600.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Đến khoảng ngày 15/12/2023, anh T tiếp tục đóng tiền lãi kỳ thứ ba cho anh H với số tiền lãi là 600.000 đồng bằng hình thức đưa tiền mặt trực tiếp. Như vậy, gói vay này anh T đã đóng lãi cho H tổng cộng 03 kỳ (đóng lãi đến ngày 12/01/2024) với số tiền lãi là 1.800.000 đồng; đến nay anh T chưa trả tiền gốc đã vay và tất toán gói vay với H.

Như vậy tổng số tiền lãi H đã thu của anh T là 35.250.000đ. Trong đó số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20% là 2.594.521 đồng, đã thu lợi bất chính 32.655.479 đồng.

4. Anh Lê Vũ B1, sinh năm 1996 trú tại thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã vay 04 lần thê:

  • Vào khoảng 15/12/2022, anh B1 đặt vấn đề vay của H số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) với hình thức vay tín chấp không để lại tài sản, giấy tờ để cầm cố, H yêu cầu anh B1 trả lãi với lãi suất là 3.000đ/triệu/ngày, tiền lãi trả trước theo kỳ 30 ngày trả lãi một lần, khi vay tiền H cắt trước tiền lãi 01 kỳ là 900.000 đồng và đưa tiền mặt trực tiếp cho anh B1 số tiền 9.100.000 đồng. Tiếp đó đến ngày 03/01/2023, anh B1 vay tiếp của H số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cũng với hình thức vay và trả lãi như trên, H cũng đưa tiền mặt trực tiếp cho anh B1 9.100.000đ, cắt trước 01 kỳ trả lãi số tiền 900.000 đồng. Ngày 13/01/2023, anh B1 trả tiền mặt trực tiếp cho H số tiền gốc anh B1 vay là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

  • Ngày 13/02/2023, anh B1 đặt vấn đề vay của H 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) với hình thức vay tín chấp không để lại tài sản, giấy tờ để cầm cố, H yêu cầu anh B1 trả lãi với lãi suất là 3.000đ/triệu/ngày, tiền lãi trả trước theo kỳ 30 ngày trả lãi một lần, khi vay tiền H cắt trước tiền lãi 01 kỳ là 900.000 đồng và đưa tiền mặt trực tiếp cho anh B1 số tiền 9.100.000 đồng. Tiếp đó đến ngày 03/03/2023, anh B1 vay tiếp anh H 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cũng với hình thức vay và trả lãi như trên, H cũng đưa tiền mặt trực tiếp cho anh B1 9.100.000đ, cắt trước 01 kỳ trả lãi số tiền 900.000 đồng. Đến ngày 24/3/2023, anh B1 trả cho H 02 kỳ tiền lãi với số tiền là 1.800.000 đồng liên quan đến khoản vay ngày 13/02/2023; ngày 27/4/2023, anh B1 trả cho H 02 kỳ tiền lãi với số tiền là 1.800.000 đồng liên quan đến khoản vay ngày 03/3/2023 đều với hình thức đưa tiền mặt trực tiếp. Đến ngày 17/5/2023, anh B1 trả cho H 10.000.000đ tiền gốc liên quan đến gói vay ngày 13/02/2023; ngày 20/5/2023, anh B1 tiếp tục trả cho H 10.000.000đ tiền gốc liên quan đến gói vay ngày 03/3/2023 bằng hình thức đưa tiền mặt trực tiếp. Gói vay này anh B1 đã trả tiền gốc và tất toán gói vay với H.

  • Ngày 30/5/2023, anh B1 đặt vấn đề vay của H số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) với hình thức vay tín chấp không để lại tài sản, giấy tờ để cầm cố, H yêu cầu anh B1 trả lãi với lãi suất là 3.000đ/triệu/ngày, tiền lãi trả trước theo kỳ 30 ngày trả lãi một lần, khi vay tiền H cắt trước tiền lãi 01 kỳ là 450.000 đồng tiền lãi và đưa tiền mặt trực tiếp cho anh B1 số tiền 4.550.000 đồng (Bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Ngày 17/6/2023, anh B1 trả cho anh H 5.000.000 đồng tiền gốc bằng hình thức đưa tiền mặt trực tiếp, gói vay này anh B1 đã trả tiền gốc và tất toán gói vay với H.

  • Ngày 18/8/2023, anh B1 đặt vấn đề vay của H số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) với hình thức vay tín chấp không để lại tài sản, giấy tờ để cầm cố, H yêu cầu anh B1 trả lãi với lãi suất là 3.000đ/triệu/ngày, tiền lãi trả trước theo kỳ 30 ngày trả lãi một lần, khi vay tiền H cắt trước tiền lãi 01 kỳ là 450.000 đồng tiền lãi và đưa tiền mặt trực tiếp cho anh B1 số tiền 4.550.000 đồng (Bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Cùng ngày anh B1 tiếp tục vay của H số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cũng với hình thức vay và trả lãi như trên, H cũng đưa tiền mặt trực tiếp cho anh B1 9.100.000đ, cắt trước 01 kỳ trả lãi số tiền 900.000 đồng. Sau khi vay tiền anh B1 có trả lãi cho H 01 kỳ tiền lãi với số tiền là 1.350.000 đồng, sau đó do không có khả năng trả tiền lãi nên anh B1 đã xin H dừng đóng lãi và chỉ trả dần tiền gốc thì H đồng ý. Đến khoảng ngày 15/12/2023, anh B1 đã trả cho anh H số tiền 15.000.000 đồng tiền gốc liên quan đến gói vay này và tất toán gói vay với H.

Như vậy tổng số tiền lãi H đã thu của anh B1 là 10.350.000đ. Trong đó số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20% là 1.695.890 đồng, đã thu lợi bất chính 8.654.110 đồng.

5. Anh Lê Đức Q, sinh năm: 1996 trú tại Thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã vay cụ thể như sau:

  • Khoảng ngày 28/9/2023, anh Q đặt vấn đề vay của H số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) với hình thức vay tín chấp không để lại tài sản, giấy tờ để cầm cố, H yêu cầu anh Q trả lãi với lãi suất là 4.000đ/triệu/ngày, tiền lãi trả theo kỳ 30 ngày trả lãi một lần, khi vay tiền H cắt trước tiền lãi 01 kỳ là 600.000 đồng và đưa tiền mặt trực tiếp cho anh Quân số tiền 4.400.000 đồng. Sau khi vay tiền anh Q tiếp tục đóng lãi cho H 02 kỳ nữa với số tiền mỗi kỳ là 600.000 đồng. Đến ngày 28/12/2023 anh Q đã trả cho H số tiền gốc 5.000.000 đồng đã vay và tất toán khoản vay với H.

Như vậy tổng số tiền lãi H đã thu của anh Q là 1.800.000₫. Trong đó số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20% là 246.575 đồng, đã thu lợi bất chính 1.553.425 đồng.

(Bút lục số: 91-109,423-425-432-440,453-456,458-463,465-469,470-541).

* Vật chứng của vụ án:

01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng, số seri: G0NF33QX0D40, số IMEI: 357104914857874 và 357104914812895 đã qua sử dụng là chiếc điện thoại H sử dụng để gọi điện, nhắn tin đòi tiền gốc, lãi của những người vay tiền. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

Sau khi bị khởi tố, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, trả lại số tiền đã thu lợi bất chính được hưởng lợi cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và anh Kiều Tùng L, Lê Văn H2, Lê Đình T, Lê Vũ B1, Lê Đức Q có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không đề nghị gì thêm. (BL; 542-551)

Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS-P2 ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Hoàng Đình H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật và tuyên phạt bị cáo cụ thể như sau:

Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Hoàng Đình H từ 6 tháng đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Xử phạt bổ sung Hoàng Đình H từ 30.000.000₫ đến 35.000.000₫ để nộp vào ngân sách nhà nước.

Biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền bị cáo cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vay chưa trả là 60.000.000đ(Sáu mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước gồm: Anh Kiều Tùng L: 30.000.000đ; anh Lê Văn H2: 15.000.000đ; anh Lê Đình T: 5.000.000đ và anh Lê Đức Q: 10.000.000₫.

Truy thu của bị cá o số tiền gốc mà nh ững người vay đã trả là 155.000.000đ để nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền do phạm tội mà có là số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật là 20% cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền lãi thu vượt quá quy định của pháp luật, bị cáo đã tự nguyện khắc phục bằng cách trả lại cho những người vay nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về xử lý vật chứng:

01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng, số seri: G0NF33QX0D40, số IMEI: 357104914857874 và 357104914812895 đã qua sử dụng là chiếc điện thoại H sử dụng để gọi điện, nhắn tin đòi tiền gốc, lãi của những người vay tiền là phương tiện phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tự nguyện nộp số ti ền 10.000.000đ tại Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa vì vậy cần trừ cho bị cáo trong số tiền phải truy thu.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo nhận tội, không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật, ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, điều đó đủ cơ sở chứng minh:

Trong khoảng thời gian từ năm 2022 và năm 2023 đến tháng 01/2024. Hoàng Đình H đã sử dụng số tiền 195.000.000đ để cho 05 người vay nhiều lần thành tổng số tiền là: 537.000.000 đồng, với mức lãi xuất mức lãi suất 109,5%/năm đến 182,5%/năm hoặc 10%/tháng (tương ứng với mức lãi suất 120%/năm). Vượt gấp 5,48 đến 9,1 lần mức lãi xuất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS. Trong đó số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20% là 18.509.589 đồng, đã thu lợi bất chính 120.620.411 đồng. Do đó hành vi của Hoàng Đình H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo

Hành vi mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng, ảnh hưởng trật tự, trị an của xã hội. Hành vi đó làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện khắc phục hậu quả bằng cách tự nguyện trả lại toàn bộ số tiền lãi thu vượt quá quy định của pháp luật cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả tại Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và bị cáo có nơi cư trú ổn định vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo cũng có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục đích hám lời. Vì vậy cần căn cứ vào khoản 3 Điều 201 và khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bổ sung đối với bị cáo để tăng tính giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

[6.1] Biện pháp tư pháp:

1. Xác định số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội:

Bị cáo cho anh Kiều Tùng L vay 6 gói vay với tổng số tiền là 30.000.000₫; cho anh Lê Văn H2 vay 5 gói vay với tổng số tiền cho vay là 187.000.000₫ nhưng thực do cho vay thành nhiều gói vay nhiều lần nên thực tế chỉ sử dụng 50.000.000đ để cho vay thành nhiều lần; cho anh Lê Đình T vay 6 gói vay với tổng số tiền 250.000.000₫ nhưng thực tế chỉ sử dụng số tiền 90.000.000₫ để cho vay thành nhiều lần; cho anh Lê Vũ B1 vay 6 lần với tổng số tiền là 57.000.000₫ nhưng thực tế chỉ sử dụng 20.000.000đ để cho vay thành nhiều lần; cho anh Lê Đức Q vay 1 lần với tổng số tiền 5.000.000₫.

Vì vậy xác định số ti ền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là 195.000.000đ (Một trăm chín mươi lăm triệu đồng) gồm: sử dụng số tiền 30.000.000đ để cho anh Kiều Tùng L vay; sử dụng số tiền 50.000.000đ để cho anh Lê Văn H2 vay; sử dụng số tiền 90.000.000₫ để cho anh Lê Đình T vay; sử dụng số tiền 20.000.000đ để cho anh Lê Vũ B1 vay và sử dụng số tiền 5.000.000đ để cho anh Lê Đức Q vay. Vì vậy cần phải tịch thu số tiền trên để nộp vào ngân sách nhà nước.

Trong quá trình cho vay, bị cáo đã thu được một phần tiền gốc gồm: thu được từ anh H2 35.000.000đ; thu được từ anh T 85.000.000đ; thu được từ anh B1 20.000.000đ; thu được từ anh Q 5.000.000đ. Tổng số tiền sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo đã thu được từ những người vay là 145.000.000₫.

Đối với số tiền những người vay đang còn nợ của bị cáo chưa trả, xác định đây là tiền sử dụng vào việc phạm tội cần truy thu của những người vay gồm: anh Kiều Tùng L 30.000.000đ; anh Lê Văn H2 15.000.000đ; anh Lê Đình T 5.000.000đ. Tổng cộng là 50.000.000₫

Vì vậy cần truy thu của bị cáo đối với số tiền gốc đã nhận từ những người vay. Đối với những người vay tiền nhưng chưa trả tiền gốc, cần truy thu để nộp vào ngân sách nhà nước

2. Xử lý đối với số tiền lãi bị cáo đã nhận được từ những người vay:

2.1. Đối với số tiền lãi trong mức lãi xuất mà pháp luật cho phép (20%/năm): Trong khi thực hiện hành vi cho vay lãi nặng, bị cáo đã nhận được từ người vay số tiền lãi là 18.509.589 đồng(Mười tám triệu năm trăm lẻ chín nghìn năm trăm tám mươi chín nghìn) cần truy thu để nộp ngân sách nhà nước.

6.2. Đối với số tiền lãi bị cáo đã thu của những người vay vượt quá quy định của pháp luật, đây là số tiền bị cáo chiếm đoạt trái phép của người vay, tuy nhiên bị cáo đã trả lại toàn bộ cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên xác định bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ dân sự đối với số tiền này.

[6.2] Xử lý vật chứng:

1. Đối với chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo xác định bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, vì vậy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

2. Đối với số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng) bị cáo nộp tại Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa cần trừ vào số tiền truy thu của bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; khoản 2 Điều 35; điểm a, b khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Tuyên bố Hoàng Đình H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

    Xử phạt Hoàng Đình H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12(Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/6/2024).

    Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bổ sung Hoàng Đình H 30.000.000₫(Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

  2. Biện pháp tư pháp

    2.1. Truy thu số tiền gốc của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay chưa trả cho bị cáo để nộp vào ngân sách nhà nước gồm:

    • - Truy thu của anh Kiều Tùng L, sinh năm 1999, trú tại phố M, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 30.000.000đ(Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

    • - Truy thu của anh Lê Văn H2, sinh năm 1996, trú tại thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 15.000.000đ(Mười lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

    • - Truy thu của anh Lê Đình T, sinh năm 1997, trú tại thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

    2.2. Truy thu số tiền gốc là 145.000.000đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu đồng) Hoàng Đình H đã nhận được từ những người vay để nộp vào ngân sách nhà nước.

    2.3. Truy thu số tiền lãi 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự của Hoàng Đình H 18.509.589 đồng(Mười tám triệu năm trăm lẻ chín nghìn năm trăm tám mươi chín nghìn) là số tiền lãi đã thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để nộp vào ngân sách nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 10.000.000₫ đã nộp tại Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu thu số 0001380 ngày 28/5/2024.

  3. Xử lý vật chứng:

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng, số seri: G0NF33QX0D40, số IMEI: 357104914857874 và 357104914812895 đã qua sử dụng của Hoàng Đình H (chi tiết vật chứng theo phiếu biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2024 giữa Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  4. Về án phí: Buộc Hoàng Đình H phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo:

    Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt toàn bộ những người có quyền lợi liên quan. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá;

  • - VKSND huyện Nông Cống;

  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;

  • - Bị cáo;

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

  • - Công an huyện Nông Cống;

  • - Chi cục THADS Nông Cống;

  • - Sở Tư pháp;

  • - Lưu hồ sơ, lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Kỳ Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đình H phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger