|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 21-06-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: bà Trịnh Thị Thắng và bà Bùi Thị Nhen
Thư ký ghi biên bản phiên toà: ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân
dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia
phiên toà: ông Đinh Thế Tâm- Kiểm sát viên sơ cấp thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 21/06/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 20 tháng
5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày
07 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn M, sinh ngày 02/01/1990 tại L, Hòa Bình. Nơi cư trú: xóm M, xã Q, huyện L,
tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn)
09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Bùi Văn Ẹ, sinh năm 1963 và bà Bùi Thị X, sinh năm 1963; Vợ là Bùi Thị Đ, sinh
năm 1994 và có 01 con sinh năm 2018. Tiền án: Không; Tiền sự: có 01 tiền sự về
hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình ra
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 02/QĐ-XPHC ngày
19/1/2014, Bùi Văn M chưa nộp tiền theo quyết định xử phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 04/02/2024 chuyển sang
tạm giam cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt;
mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bùi Văn T, sinh năm 1990. Địa chỉ: xóm T, G, T, Hòa Bình. Vắng mặt;
+ Bùi Văn Ẹ, sinh năm 1963. Địa chỉ: xóm M, xã Q, huyện L, Hòa Bình. Có
mặt;
+ Nguyễn Thành H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn B, huyện L, tỉnh
Hòa Bình. Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
+ Bùi Văn K, sinh năm 1985. Địa chỉ: xóm Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Vắng mặt;
+ Bùi Mạnh L, sinh năm 1987. Địa chỉ: xóm R, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do nghiện chất ma túy nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, Bùi
Văn M điều khiển xe mô tô biển số 28S4-3892 từ nhà ở xóm M, xã Q, huyện L, tỉnh
Hòa Bình đi tìm mua ma túy. Khi đến đoạn đường thuộc xóm Y, xã Q thì M gặp anh
Bùi Văn T là người ở xóm T, xã G, huyện T, tỉnh Hòa Bình. M biết T cũng là người
nghiện chất ma túy nên M hỏi T biết ở đâu bán chất ma túy không. T nói với M là T
có bán. Sau đó, M đưa cho T số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) và được T đưa cho
03 (Ba) gói chứa chất ma túy. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, khi M đi đến
đoạn đường thuộc xóm R, xã Q tìm nơi vắng người để sử dụng trái phép chất ma túy
thì bị tổ Công tác của Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ bên trong
túi áo ngực bên trái của M đang mặc có 01 (Một) gói giấy bạc và 02 (Hai) gói nilon
bên trong đều chứa chất ma túy. Sau đó, Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt
người phạm tội quả tang đối với Bùi Văn M và niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số: 101/KL-KTHS ngày 01 tháng 02 năm 2024
của Phòng K1, Công an tỉnh H kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu G1,G2,
G3 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang
Bùi Văn M sinh năm 1990, trú tại xóm M - Q - L - Hòa Bình” gửi giám định có khối
lượng là 0,32g (Không phẩy ba mươi hai gam) là ma túy, loại Heroin (H).
Heroine nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP
ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, truy tố Bùi Văn M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Về thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội
với lỗi cố ý, mục đích bị cáo tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo: Do bị cáo nghiện
ma túy nên tàng trữ để sử dụng.
Cáo trạng số: 29/CT-VKS ngày 20/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Lạc Sơn đã Quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn M về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma
Tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Thực hành quyền công tố tại
phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đồng thời
đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều
51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 21 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ
sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án gồm: Toàn bộ số ma túy loại Heroine cùng vỏ bao gói
còn lại sau giám định thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn M là vật nhà nước cấm tàng
trữ hiện chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn quản lý chờ xử lý.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 47 bộ luật hình sự;
khoản 1, điểm a và c khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28S4-3892 xét thấy không ảnh hưởng
đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến
hành trả lại cho chủ sở hữu là ông Bùi Văn Ẹ theo quy định pháp luật. Việc xử lý vật
chứng nêu trên là phù hợp Điều 47 bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự
nên đề nghị HĐXX cộng nhận và không xem xét giải quyết trong vụ án. Hiện ông Ẹ
đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì.
Đối với Bùi Văn T, người mà bị cáo M khai mua ma túy của T vào ngày
29/01/2024 tại khu vực xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình: Ngày 29/01/2024, Cơ quan
Cảnh sát điều tra, Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình ra Lệnh khám xét khẩn cấp số:
67/LKX-ĐCSHS-KTMT khám xét chỗ ở của Bùi Văn T. Quá trình khám xét cơ quan
Cảnh sát điều tra, Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình không phát hiện đồ vật, tài liệu
liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 19/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện L, tỉnh Hòa Bình phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh
Hòa Bình tiến hành đối chất giữa Bùi Văn T và Bùi Văn M. Quá trình đối chất, T
không thừa nhận mình là người bán ma tuý cho M; M không đưa ra được tài liệu,
chứng cứ chứng minh T là người bán chất ma túy cho M nên Cơ quan điều tra không
có căn cứ để xử lý đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết hành vi của Bùi Văn T
trong vụ án.
Đối với ông Bùi Văn Ẹ là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28S4-
3892, quá trình điều tra xác định ông Ẹ không biết việc M sử dụng chiếc xe trên để
thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đề nghị HĐXX không đề cập xử
lý.
Bị cáo không có lời bào chữa, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị
cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo Bùi Văn M tại phiên tòa sơ
thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo; những người chứng kiến, phù hợp biên bản
bắt người phạm tội quả tang, các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài
liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 29/01/2024, tại xóm R, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa
Bình, Bùi Văn M đang có hành vi tàng trữ trái phép bên trong túi áo ngực bên trái của
Bùi Văn M đang mặc 0,32g (Không phẩy ba mươi hai gam) ma túy loại Heroine với
mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi
của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo
tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Bùi Văn M là nghiêm
trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất
ma tuý, làm mất trật tự trị an, gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho đời sống xã hội.
Heroin là chất ma tuý rất độc hại, tàn phá và hủy hoại sức khỏe con người, là một
trong những nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng khác. Khi thực hiện hành vi, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhận thức đầy đủ về
tác hại của ma tuý nhưng vẫn cố tình thực hiện- lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại điều
52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo có 01 tiền sự- ngày
19/01/2024, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã Q, huyện L, tỉnh
Hòa Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 02/QĐ-
XPHC. Bùi Văn M chưa nộp tiền theo quyết định xử phạt.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố Bùi Văn M đã thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế
đặc biệt khó khăn; gia đình thuộc diện hộ nghèo của địa phương thỏa mãn qui định
về tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần
được xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong quá trình
lượng hình.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị
cáo; Căn cứ tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo; Căn cứ các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo HĐXX xét thấy cần phải áp dụng hình
phạt nghiêm khắc cách ly xã hội một thời gian đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo
dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại
phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp không ổn định,
không có tài sản riêng, gia đình thuộc diện hộ nghèo của địa phương. HĐXX Quyết
định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định
tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[7] Vật chứng của vụ án gồm: Số ma túy loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao
gói còn lại sau giám định thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn M là vật nhà nước cấm
tàng trữ hiện chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn quản lý chờ xử
lý cần tịch thu tiêu hủy theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 47 bộ luật hình sự;
khoản 1, điểm a và c khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28S4-3892 xét thấy không ảnh hưởng
đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến
hành trả lại cho chủ sở hữu là ông Bùi Văn Ẹ theo quy định pháp luật. Việc xử lý vật
chứng nêu trên là phù hợp Điều 47 bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự
nên HĐXX cộng nhận và không xem xét giải quyết trong vụ án. Hiện ông Ẹ đã nhận
lại tài sản và không có đề nghị gì.
[8] Đối với Bùi Văn T, người mà bị cáo M khai mua ma túy của T vào ngày
29/01/2024 tại khu vực xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình: Ngày 29/01/2024, Cơ quan
Cảnh sát điều tra, Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình ra Lệnh khám xét khẩn cấp số:
67/LKX-ĐCSHS-KTMT khám xét chỗ ở của Bùi Văn T. Quá trình khám xét cơ quan
Cảnh sát điều tra, Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình không phát hiện đồ vật, tài liệu
liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 19/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện L, tỉnh Hòa Bình phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh
Hòa Bình tiến hành đối chất giữa Bùi Văn T và Bùi Văn M. Quá trình đối chất, T
không thừa nhận mình là người bán ma tuý cho M; M không đưa ra được tài liệu,
chứng cứ chứng minh T là người bán chất ma túy cho M nên Cơ quan điều tra không
có căn cứ để xử lý. Do đó, HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án.
Đối với ông Bùi Văn Ẹ là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28S4-
3892, quá trình điều tra xác định ông Ẹ không biết việc M sử dụng chiếc xe trên để
thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên HĐXX không đề cập xử lý.
[9] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác.
[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều
136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Định
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo có quyền kháng
cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
Tuý”.
Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn M 21 (Hai mươi mốt) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024 (Ngày bị cáo bị tạm giữ).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 bộ luật hình sự; Khoản 1,
điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy đối với 01
phong bì niêm phong một mặt có ghi "Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Bùi
Văn M, sinh năm 1990 - Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra: ngày 29/01/2024.
Tại: xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình". Mép dán có dấu niêm phong của Phòng K1 -
Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong bên trong có
chứa toàn bộ số ma tuý cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định là vật nhà
nước cấm tàng trữ.
(Vật chứng nêu trên hiện được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện
Lạc Sơn theo đúng mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho ngày
27/5/2024).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản
1 Điều 23 Nghị Định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc
bị cáo Bùi Văn M phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng
hình sự: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống
đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Minh
