|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21 tháng 5 năm 2024
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Xuân Trường
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm
- Bà Bùi Thị Hảo
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST- HNGĐ ngày 12/01/2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐST- HNGĐ ngày 10/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐ-ST ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Lã Thị H, sinh năm 1991;
- Địa chỉ: Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Người đại diện theo ủy quyền về việc nộp nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, nộp các tài liệu chứng cứ, án phí và chi phí tố tụng:
- Ông Lã Hữu T, sinh năm 1957
- Địa chỉ: Khu F, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Văn A, sinh năm 1991
- Địa chỉ: Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Lã Thị H trình bày:
Chị và anh Lê Văn A kết hôn ngày 20/03/2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự do tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng với bố mẹ chồng ở khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên không còn tôn trọng thương yêu nhau, không quan tâm và thường xuyên cãi nhau, mặc dù được gia đình khuyên bảo nhưng anh Lê Văn A không thay đổi. Đến 26/02/2018 hai bên đã sống ly thân và Chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ đó đến nay, kể từ khi sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm, liên lạc gì với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho C được ly hôn với anh Lê Văn A.
Về con chung: Chị và anh Lê Văn A có 03 con chung là cháu Lê Việt H1, sinh ngày 20/12/2009; cháu Lê Thị Trà M, sinh ngày 10/08/2012 và cháu Lê Gia B, sinh ngày 24/03/2014 (Cháu B bị đuối nước đã chết ngày 03/3/2020). Hiện nay hai con chung cháu Lê Thị Trà M và cháu Lê Việt H1 đều đang do anh Lê Văn A trực tiếp nuôi dưỡng.
Khi ly hôn chị có quan điểm: Do Chị đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan không có mặt tại Việt Nam nên để đảm bảo ổn định cuộc sống và việc học tập của các cháu, C đề nghị Tòa án xem xét giao cho anh Lê Anh V trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi các con chung cùng với anh Lê Văn A theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và công sức đóng góp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn là anh Lê Văn A: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng qua bố mẹ đẻ của anh Lê Văn A và niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã K, nhà văn hóa khu A1, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để anh Lê Văn A thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, nhưng anh Lê Văn A đều không có mặt nên không có lời khai.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/2/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tại gia đình ông Lê Văn T1 (là bố đẻ của anh Lê Văn A) tại khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thể hiện: Ông là bố đẻ của anh Lê Văn A, ông cho biết hiện anh Lê Văn A đang đi lao động tự do ở Bình Phước, địa chỉ cụ thể ông không biết. Ông đồng ý nhận, cam kết sẽ giao và thông báo cho anh A biết nội dung văn bản tố tụng của Tòa án.
Tại biên bản lấy lời khai của ông Lê Văn T1 ngày 18/3/2024, ông Lê Văn T1 cho biết ông đã giao và thông báo nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Lê Văn A biết. Đồng thời, anh Lê Văn A có nói với ông rằng đây là việc giải quyết của anh chị, không phải việc của ông. Do đó, ông từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Ngoài ra, ông cho biết cháu Lê Việt H1 và cháu Lê Thị Trà M hiện đang học ở trường trung học cơ sở A2, huyện P. Hiện anh Lê Văn A đang đi làm thợ xây tại địa phương và vẫn ở nhà tại xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án đã tiến hành theo đúng các quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 51, khoản 1 điều 56, điều 81, 82,83,110,116,123 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 3 điều 35, điều 37 khoản 4 điều 147, điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lã Thị H được ly hôn với anh Lê Văn A.
Về con chung: Giao con chung Lê Việt H1, sinh ngày 20/12/2009 và con chung Lê Thị Trà M, sinh ngày 10/08/2012 cho anh Lê Văn A trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn đến khi con chung đã thành niên; Chị Lã Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lã Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lê Văn A số tiền từ 1.500.000đ đến 2.000.000đ/một con chung/ một tháng cho đến khi con chung đã thành niên.
Về tài sản chung, công sức, công nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét vì các đương sự không yêu cầu.
Về án phí chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe đương sự trình bày, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lã Thị H ủy quyền cho ông Lã Hữu T (là bố đẻ của chị H) nộp đơn xin ly hôn anh Lê Văn A tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Trong đơn xin ly hôn và các tài liệu của chị H gửi về có xác nhận của Văn phòng kinh tế và văn hóa Việt Nam tại Đ trình bày hiện chị đang sống và làm việc tại Đài Loan. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quan hệ tranh chấp được xác định trong vụ án là quan hệ “Tranh chấp hôn nhân và gia đình".
Chị Lã Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có quan điểm thể hiện tại Bản tự khai gửi đến Tòa án; Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh Lê Văn A nhưng anh Lê Văn A đều vắng mặt tại các buổi làm việc, tại các phiên tòa không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt đối với chị H và anh A.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lã Thị H và anh Lê Văn A là hôn nhân hợp pháp. Do vợ chồng đã mâu thuẫn, không còn tôn trọng thương yêu nhau, không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống gia đình nên tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, nên chị Lã Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn A.
Tòa án đã tống đạt qua bố mẹ đẻ của anh Lê Văn A và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Anh A đã biết được việc chị H xin ly hôn đối với anh nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên được xác định là từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với anh A là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại biên bản làm việc ngày 18/3/2024, Tòa án đã làm việc với chính quyền địa phương về tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh A thể hiện: Anh A và chị H kết hôn ngày 20/3/2012, sau đó chị H về ở cùng với gia đình ông Lê Văn T1 tại khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị đã xảy ra mâu thuẫn. Đồng thời, chị H cũng trình bày anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay.
Hội đồng xét xử thấy rằng giữa chị H và anh A mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị Lã Thị H yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn A là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử xét thấy Chị H và anh Lê Văn A hiện nay còn 02 con chung là Lê Việt H1, sinh ngày 20/12/2009; Lê Thị Trà M, sinh ngày 10/08/2012 đang được anh A trực tiếp nuôi dưỡng, nguyện vọng của các con chung đều xin được do anh A trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị H hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan không có mặt tại Việt Nam, anh A đang sinh sống và làm việc ở Việt Nam; Để đảm bảo sự ổn định cuộc sống của các con chung nên cần giao các con chung cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng và buộc chị H phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Pháp luật.
[4] Về tài sản chung, công sức, công nợ chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét; anh A vắng mặt không có quan điểm nếu có yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: Chị Lã Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 123 của luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, 4 Điều 207; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lã Thị H được ly hôn anh Lê Văn A.
- Về con chung: Giao con chung Lê Việt H1, sinh ngày 20/12/2009 và con chung Lê Thị Trà M, sinh ngày 10/08/2012 cho anh Lê Văn A trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn đến khi con chung đã thành niên; Chị Lã Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lã Thị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng anh Lê Văn A số tiền 3.600.000₫ (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) cho hai con chung một tháng (1.800.000đ/một tháng/một con chung), kể từ tháng 5/2024 đến khi các con chung đã thành niên.
- Về án phí: Chị Lã Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000099 ngày 11/01/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ; chị Lã Thị H còn phải nộp số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Trong hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Xuân Trường |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho ly hôn
