Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN LẠC

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS - ST

Ngày 21 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khảm

Bà Ngô Thị Kim Thêu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Lưu Hải Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1979 tại xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị C1; có vợ là Nguyễn Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 20/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2019, đến ngày phạm tội 13/01/2024 đã chấp hành xong toàn bộ Bản án. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Y “có mặt”.

Người bào chữa cho các bị cáo Trần Văn T: Ông Lê Văn D - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V “có mặt”.

Người làm chứng: Bà Đặng Thị D1, sinh năm 1991, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T, sinh năm1979, trú tại thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc là đối tượng nghiện chất ma túy từ khoảng tháng 6 năm 2017 đến nay chưa từ bỏ được. Khoảng 17 giờ 00 ngày 13/01/2024, T có nhu cầu sử dụng mà túy nên đã một mình đi đến thôn A, xã H, huyện Y mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi T đi bộ đến khu vực ngã tư N thuộc địa phận thôn A, xã H thì gặp một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi (không rõ lai lịch) đang đứng một mình. T đi đến gần vị trí người đàn ông này đứng và hỏi: “Có ma túy không, để cho 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)” thì người đàn ông gật đầu đồng ý. T liền lấy 200.000 đồng đưa cho người đàn ông và được người này đưa lại cho T 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, bên ngoài có ghi chữ “Thăng Long”, bên trong có chứa 02 gói ma túy Heroin gồm 01 gói được bọc bằng giấy màu vàng và 01 gói bọc bằng giấy màu trắng. Sau khi mua được ma túy, Trần Văn T cầm vỏ bao thuốc lá chứa 02 gói ma túy trong lòng bàn tay phải và đi bộ tìm địa điểm để sử dụng. Khi T đang đi bộ tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn A, xã H, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y bất ngờ kiểm tra, do hoảng sợ nên T đã ném vỏ bao thuốc lá có chứa 02 gói ma túy xuống đường nhằm mục đích tiêu hủy tang vật. Tổ công tác Công an huyện Y đã tiến hành bắt giữ Trần Văn T, thu giữ trên mặt đường nhựa, vị trí T đang đứng 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, bên ngoài ghi chữ “Thăng Long” do T vừa vứt, kiểm tra bên trong vỏ thuốc lá có chứa 02 gói nhỏ, bên trong 02 gói này đều chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy Heroin do Trần Văn T mua để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn T và tiến hành niêm phong toàn bộ tang vật theo quy định.

Ngày 13 tháng 01 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định số 69, Trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V, tiến hành giám định mẫu được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A1. Tại văn bản số 159/KLGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,2808g (Không phảy hai tám không tám gam, không kể bao bì), loại heroine (Heroin). Heroine (H1) có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Đối với người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi (không rõ lai lịch), T khai đã bán ma túy cho T như nêu trên, Cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có cở sở để điều tra, xử lý.

Vật chứng vụ án: Bao gói niêm phong mẫu vật ghi “Mẫu trả151” gồm: Mẫu chất bột màu trắng = 0,2308g còn lại sau giám định.

Quá trình điều tra Trần Văn T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại Cáo trạng số 28/CT - VKSBX ngày 15 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt Trần Văn T từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 13/01/2024; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng và miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Bị cáo T không có ý kiến bổ sung gì khác và cũng không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo là người nghiện ma túy nên mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Mặt khác, gia đình bị cáo vừa được xóa hộ cận nghèo, bản thân bị cáo là người khuyết tật nặng nên hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn; bị cáo thành khẩn khai báo; bố bị cáo là người có công. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đồng thời không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Người làm chứng chị Đặng Thị D1 vắng mặt tại phiên tòa xong trong quá trình điều tra đều trình bày các nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo T cùng các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 13 tháng 01 năm 2024, tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn A, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác Công an huyện Y phát hiện, bắt quả tang Trần Văn T, sinh năm 1979; trú tại thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroin có trọng lượng là 0,2808g để sử dụng.

[3] Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh V và vật chứng vụ án thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi cất giấu ma túy của bị cáo Trần Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến tính chất độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện. Ma túy là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, trong giai đoạn hiện nay tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng. Để nhằm mục đích tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo Trần Văn T thuộc diện người khuyết tật nặng, được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 3364/QĐ-UBND ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Ủy ban nhân dân huyện Y. Ngoài ra, bố đẻ của bị cáo là ông Trần Văn C được Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhận thức bình thường, có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, bất chấp quy định của pháp luật xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hơn nữa, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 04 tháng 05 năm 2018, Trần Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam cũng về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, đến ngày 27 tháng 01 năm 2019 bị cáo đã chấp hành xong trở về địa phương nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ về hành vi bị cáo đã thực hiện như mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan trong vụ án:

Tịch thu tiêu hủy “Mẫu trả151” gồm: 01 túi niêm phong ký hiệu A1 = 0,2308g còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành.

Đối với người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi (không rõ lai lịch), T khai đã bán ma túy cho T như nêu trên, Cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có cở sở để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí: Do bị cáo là người khuyết tật nặng và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 13/01/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ “Mẫu trả151” còn lại sau giám định gồm: 01 túi niêm phong ký hiệu A1 = 0,2308g

(Vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc lập ngày 25/4/2024).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn T.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Khảm Ngô Thị Kim Thêu

Phan Thị Thanh Mai

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan CSĐT - CA huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan THAHS - CA huyện Yên Lạc;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Lạc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Thanh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS - ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 31/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Thanh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger