|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-12-2025 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Tươi
- Bà Nguyễn Thị Hưởng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 96/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc N, sinh năm 2000; Địa chỉ: Số A Ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp L, xã M, tỉnh Tây Ninh.
(Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Đ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 18/9/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Thành Đ quen biết và được gia đình hai bên đồng ý nên vào năm 2022 đã tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Long An (nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Tây Ninh). Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau, bà không còn tình cảm với ông Đ nữa. Hiện nay mâu thuẫn đã ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thành Đ.
Về con chung: Bà và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Võ Khả H, sinh ngày 01/11/2022. Hiện con chung đang sống cùng ông Đ. Khi ly hôn, bà đồng ý giao con chung cho ông Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thành Đ đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm nhưng không hòa giải được do bị đơn vắng mặt. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu không tiến hành hòa giải. Do đó, Tòa án không tiếp tục hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Bà Võ Thị Ngọc N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành Đ, ông Đ có địa chỉ cư trú tại xã M, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “Tranh chấp ly hôn”, thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân Khu vục 4 – Tây Ninh.
[2]. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng theo quy định pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
[3]. Bà Võ Thị Ngọc N và ông Nguyễn Thành Đ xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân L, huyện B, tỉnh Long An (nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Tây Ninh) ngày 23/8/2022 theo quy định. Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Đ là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.
[4]. Xét yêu cầu ly hôn của bà N, Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng có thời gian dài chung sống nhưng không đảm bảo hạnh phúc. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N cho rằng giữa bà N và ông Đ đã phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, bà không còn tình cảm với ông Đ. Ông Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không có văn bản trình bày ý kiến, không có phương án hàn gắn tình cảm. Xét thấy, trong cuộc sống vợ chồng mà một bên đã không còn thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng, mặt khác trong quá trình chung sống giữa bà N và ông Đ đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa hợp với nhau là đã vi phạm một trong những quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào nguyên nhân mâu thuẫn mà các bên trình bày chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N là phù hợp.
[5]. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Theo lời trình bày của bà N xác định quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Võ Khả H, sinh ngày 01/11/2022. Hiện con chung đang sống cùng ông Đ. Khi ly hôn, bà đồng ý giao con chung cho ông Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy bà N tự nguyện có ý kiến đồng ý giao con chung cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng; Mặt khác, từ trước đến nay cháu H sinh sống ổn định cùng với ông Đ và ông Đ cũng không có ý kiến trình bày và cung cấp tài liệu, chứng cứ về vấn đề này. Do đó, để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu H nên giao cháu cho ông Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N đồng ý giao con cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con chung, ông Đ vắng mặt cũng như không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định giữa bà và ông Đ không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Đ vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Võ Thị Ngọc N phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điểm a khoản 1 các Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Võ Thị Ngọc N về việc “Ly hôn” với ông Nguyễn Thành Đ.
- Về hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc N được ly hôn với ông Nguyễn Thành Đ.
- Về quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Thành Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Võ Khả H, sinh ngày 01/11/2022. Bà Võ Thị Ngọc N không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Bà Võ Thị Ngọc N phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng. Khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006280 ngày 08/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh chuyển sang án phí. Bà N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Nga |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH về ly hôn
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Ngọc Nga "Ly hôn" Nguyễn Thành Đạt
