|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 6 - 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thu Trang
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Ngân
2. Bà Vũ Thị Hoà
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Linh - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên
toà: Bà Hoàng Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 84/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QÐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lừu Thị B - Sinh năm 1996
- Bị đơn: Anh Nùng Văn H - Sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lừu Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H đăng ký kết hôn ngày 31/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là UBND xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu nhau một thời gian trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong đời sống hàng ngày và trong cách làm ăn kinh tế, từ đó giữa anh chị thường xuyên xảy ra việc đánh cãi chửi nhau, vợ chồng không quan tâm đến nhau, việc của ai người đó làm khiến cho cuộc sống hôn nhân luôn trong tình trạng căng thẳng, không có hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Hiện nay chị B và anh H đã sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Đến nay chị Lừu Thị B nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị Lừu Thị B đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nùng Văn H để chị sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H có 02 con chung là cháu Nùng Thị T - Sinh ngày 25/9/2013 và cháu Nùng Đức H1 - Sinh ngày 10/12/2015. Khi ly hôn chị B đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nùng Thị T, anh Nùng Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nùng Đức H1 đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị Lừu Thị B đang làm công việc lao động tự do, thu nhập của chị bình quân khoảng 10.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản: Chị Lừu Thị Bằng K yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nùng Văn H:
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt nhưng anh Nùng Văn H thường xuyên đi làm, thỉnh thoảng mới về nhà nên Tòa án đã không tống đạt trực tiếp được cho anh Nùng Văn H. Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Nùng Văn H theo đúng quy định nhưng anh Nùng Văn H không có văn bản trả lời và cũng không đến Toà án làm bản tự khai, tiếp cận công khai chứng cứ. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử và tiến hành xét xử vắng mặt anh Nùng Văn H.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về hôn nhân: Xử cho chị Lừu Thị B được ly hôn với anh Nùng Văn H.
Về con chung: Giao cháu Nùng Thị T - Sinh ngày 25/9/2013 cho chị Lừu Thị B; giao cháu Nùng Đức H1 - Sinh ngày 10/12/2015 cho anh Nùng Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Nùng Thị T và cháu Nùng Đức H1 đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lừu Thị Bằng L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nùng Văn H và giải quyết việc nuôi con chung giữa anh chị, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Nùng Văn H có nơi cư trú tại thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án đúng quy định nhưng anh Nùng Văn H không đến Toà án làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Nguyên đơn chị Lừu Thị B đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, do vậy đây là vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ Luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lừu Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nùng Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H đăng ký kết hôn ngày 31/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là UBND xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) trên cơ sở tự nguyện do đó hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Về mâu thuẫn vợ chồng, chị Lừu Thị B cho rằng sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong đời sống hàng ngày và cách làm ăn kinh tế nên vợ chồng thường xuyên xảy ra việc đánh cãi chửi nhau, vợ chồng không quan tâm đến nhau, việc của ai người đấy làm. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không cải thiện được. Hiện nay anh chị tuy vẫn sống chung một nhà nhưng đã ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Tại biên bản xác minh ngày 11/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai đã xác định trong thời gian chung sống giữa chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H có xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thương xuyên đánh cãi chửi nhau, gia đình và địa phương đã can thiệp hòa giải cho anh chị nhưng không thành. Nội dung xác minh của Tòa án phù hợp với lời khai của chị Lừu Thị B và tài liệu chứng cứ thu thập được. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, giữa vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lừu Thị B đối với anh Nùng Văn H.
[2.2] Về con chung: Thời gian chung sống chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H có 02 con chung là cháu Nùng Thị T - Sinh ngày 25/9/2013 và cháu Nùng Đức H1 - Sinh ngày 10/12/2015. Khi ly hôn chị B đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nùng Thị T, anh Nùng Văn H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nùng Đức H1 đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Lừu Thị B trình bày hiện nay chị đang làm công việc lao động tự do, thu nhập của chị bình quân khoảng 10.000.000 đồng/tháng, anh Nùng Văn H không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn của chị Lừu Thị B. Ngày 11/4/2025 Toà án nhân dân thành phố Lào Cai đã tiến hành xác minh về điều kiện sống, mức thu nhập của chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H, qua đó đã xác định hiện nay anh chị đang làm công việc lao động tự do, có thu nhập, các con chung của anh chị hiện nay vẫn đang chung sống cùng anh chị. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Nùng Thị T có nguyện vọng được ở với chị Lừu Thị B, cháu Nùng Đức H1 có nguyện vọng được ở với anh Nùng Văn H. Xét thấy chị B và anh H đều có đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung của anh chị. Do đó, để đảm bảo cho quyền lợi của cháu Nùng Thị T và cháu Nùng Đức H1, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nùng Thị T cho chị Lừu Thị B, giao cháu Nùng Đức H1 cho anh Nùng Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, chị B và anh H có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị B và anh H mỗi người đều trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không ai có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Lừu Thị B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cháu Nùng Thị T - Sinh ngày 25/9/2013 cho chị Lừu Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Nùng Đức H1 - Sinh ngày 10/12/2015 cho anh Nùng Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Nùng Thị T và cháu Nùng Đức H1 đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Lừu Thị B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, xác nhận chị Lừu Thị B đã nộp đủ tiền án phí là 300.000 đồng theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số [...] ngày 11 tháng 4 năm 2025 của Công ty Cổ phần T1 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 195 ngày 11 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lừu Thị B và anh Nùng Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thu Trang |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
