Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:31/2025/HS-ST

Ngày 16-04-2025

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
  • Các Hội Thẩm nhân dân:
    • Bà Hoàng Thị Chính
    • Ông Phạm Anh Tuấn
  • Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 04 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 04 năm 2025 đối với bị cáo tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an thành phố H:

Lê Ngọc S, sinh ngày 10 tháng 07 năm 1990 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Duy T và bà Nguyễn Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 02 tiền án đã xóa án tích.

  • + Bản án số 34/2011/HSST ngày 16/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời gian thử thách là 14 tháng 04 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Bản án số 43/2017/HSST ngày 06/06/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tuyên phạt Lê Ngọc S 12 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng;

Tạm giữ từ ngày 05/12/2024 đến ngày 11/12/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Trần Thị Thu T2 - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 04/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Ngọc S một mình đi xe buýt đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 02 túi ma túy đá (01 túi nilon kích thước 1,5x1,5cm và 01 túi nilon kích thước 1,5x2cm) với giá 300.000 đồng, S cất giấu số ma túy trên vào dưới lót giày bên phải. Đến khoảng 19 giờ 05 phút cùng ngày, S đi xe ôm đến khu vực phía sau Cổng trào khu đô thị C thuộc tổ L, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng S xuống xe đi bộ thì bị tổ công tác Công an phường B, quận K phát hiện bắt giữ quả tang cùng vật chứng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Ngọc S tại thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài sản liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 1346/KL-KTHS(MT) ngày 09/12/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,15 gam, loại: Methamphetamine”.

Ngày 04/12/2024 Phòng K Công an thành phố H test thử đối với Lê Ngọc S, kết quả: “Sơn dương tính với chất ma túy Methamphetamine”.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Ngọc S khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung trên. Mục đích S cất giữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân. Số tiền 300.000 đồng S sử dụng để mua ma túy là do lao động mà có. S không quen biết người chở xe ôm và người chở xe ôm không biết việc S cất giữ ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSKA ngày 11 tháng 03 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Lê Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, và trình bày Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Ngọc S từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo S.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại và vỏ bao bì.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 05 phút ngày 04/12/2024, tại khu vực phía sau Cổng trào khu đô thị C thuộc tổ L, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng, bị cáo Lê Ngọc S đã có hành vi cất giữ trái phép 0,15 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cá nhân thì bị phát hiện bắt quả tang, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Khối lượng ma tuý mà bị cáo S tàng trữ là 0,15 gam ma túy loại Methamphetamine nên bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án:

  • + Bản án số 34/2011/HSST ngày 16/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo tuyên phạt Lê Ngọc S 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời gian thử thách là 14 tháng 04 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/9/2011.
  • + Bản án số 43/2017/HSST ngày 06/06/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tuyên phạt Lê Ngọc S 12 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018. Thi hành xong án phí hình sự ngày 26/7/2017.

Nên căn cứ Điều 70, 73 Bộ luật Hình sự 02 tiền án của bị cáo S đã xoá án tích nhưng vẫn coi bị cáo có nhân thân không tốt.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Về hình phạt:

[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo S và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

- Về vật chứng:

[10] Đối với số ma tuý còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì là vật cấm lưu hành, cấm sử dụng trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí:

[11] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Về các nội dung khác:

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho S tại khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 04/12/2024. Hiện chưa xác định được rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc S: 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong 01 bì thư dán kín niêm phong số 1346MT/PC09 của Phòng P.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/04/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP.Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP.Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Kiến An;
  • - Phòng PV06 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lã Anh Tuấn Hoàng Thị C

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

6

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger