|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15-4-2025. V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Đổi;
- Ông Mai Tuấn Kiệt.
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Đức Anh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Khánh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXX-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024; Thông báo số: 04/2025/TB-TA ngày 05-3-2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Huỳnh Thị Ngọc C, sinh năm 2003; địa chỉ: ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh C1, M - Y, sinh năm 1982; địa chỉ: số F, đường V, khóm B, phường V, khu O, thành phố T, Đài Loan; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25-3-2024 và bản tự khai nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ngọc C trình bày:
Chị và anh C1, M - Yu quen biết nhau qua mai mối, năm 2023 anh C1, M - Yu về Việt Nam; chị và anh C1, M - Yu có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh ngày 17-7-2023.
Sau khi kết hôn anh C1, M - Yu bảo lãnh chị sang Đài Loan chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp, thường xuyên cải nhau, hôn nhân không hạnh phúc, chị về Việt Nam sinh sống cho đến nay, chị nhận thấy hôn nhân của chị và anh C1, M - Yu không thể hàn gắn lại được. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh C1, M - Y.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị C khai không có và không yêu cầu giải quyết.
Đối với anh C1, M - Y Tòa án đã tiến hành Ủy thác tư pháp đúng theo quy định; đến ngày 28-02-2025 nhận được Công văn số: 3829/BTP-PLQT ngày 06-12-2024 của Bộ Tư pháp về kết quả uỷ thác tư pháp cho anh C1, M - Yu bằng phương thức gửi hồ sơ cho người làm thuê của đương sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cho chị Huỳnh Thị Ngọc C và anh C1, M - Yu ly hôn; về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Huỳnh Thị Ngọc C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; đối với anh C1, M - Y, cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác vào ngày 26-9-2024 bằng phương thức, gửi hồ sơ ủy thác cho người làm thuê của đương sự nhưng anh C1, M - Yu vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị C và anh C1, M - Yu là có căn cứ theo quy định tại các Điều 228, 238; điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Chị Huỳnh Thị Ngọc C và anh C1, M - Yu tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh. Do đó, quan hệ vợ chồng giữa chị C và anh C1, M - Yu là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
[3] Sau khi kết hôn phát sinh mâu thuẫn, do không hợp nhau, chị C nhận thấy hôn nhân với anh C1, M - Yu không còn hạnh phúc; chị về Việt Nam sinh sống, giữa chị và anh C1, M - Yu không còn liên lạc với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện Ủy thác tư pháp nhưng anh C1, M - Yu không có văn bản trả lời và không có mặt. Như vậy, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị C yêu cầu ly hôn với anh C1, M - Yu là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị C khai không có, nên không giải quyết.
[5] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C; cho chị C ly hôn với anh C1, M - Yu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Ngọc C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài; theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 228, 238; khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Ngọc C đối với anh C1, M - Y.
Chị Huỳnh Thị Ngọc C, anh C1, M – Y không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Huỳnh Thị Ngọc C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000176 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; (đã nộp xong).
- Lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Huỳnh Thị Ngọc C phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp, được khấu trừ 200.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Biên lai thu số 0059160 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; (đã nộp xong).
- Chị Huỳnh Thị Ngọc C có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh C1, M - Yu có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam trong thời hạn 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Tòng |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Ngọc C yêu cầu ly hôn với Chen-Min-Y
