Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 15/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:Bà Phạm Thúy Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Phạm Thị Thà
Bà Nguyễn Thị Bích Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Minh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Quán Văn H, sinh ngày 01/09/1989 tại huyện K, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; Số căn cước công dân [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Quán Văn H1 và con bà Trần Thị Y; gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Bản án số 83 ngày 08/12/2020 của TAND huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (ngày phạm tội 07/07/2020); Bản án số 30 ngày 02/7/2021, TAND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ngày phạm tội từ ngày 27/3/2020 đến ngày 03/01/2021). Tổng hợp hình phạt buộc H phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 24 tháng tù (được trừ thời hạn tạm giữ từ 11/8/2020 đến 20/8/2020), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2021. Ngày 17/11/2022, H chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.837.803.308-891-25-000608/QĐ-XPHC ngày 05/02/2025 của Công an thành phố C về hành vi điều khiển xe mô tô hai bánh từ 50 cm³-175cm³ KHÔNG MANG BIỂN SỐ đã vi phạm hành vi: Không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ; Điều khiển xe không gắn biển số. Tổng mức phạt là 1.400.000đồng; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 106/QĐ-XPHC ngày 04/02/2025 của Công an tỉnh H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào tối ngày 14/09/2025. Mức phạt: 1.500.000đồng. Bị bắt tạm giam từ ngày 17/9/2024 tại trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Sở giao thông vận tải nay là Sở xây dựng tỉnh H; địa chỉ: G B, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ – Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức H2 - chuyên viên phòng Quản lý kết cấu hạ tầng giao thông Sở G; có mặt.

  2. Công ty TNHH MTV Q; địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn T .

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Quang M - Phó trưởng phòng vận hành Công ty TNHH MTQ quản lý và khai thác đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng; có mặt.

  3. Công ty cổ phần Đ1; địa chỉ: Số nhà B, 4 đường L, Phường L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: ông Đỗ Mạnh H3 – Giám đốc;

    Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Văn T1 - Cán bộ phụ trách thi công - Công ty cổ phần Đ1; có mặt.

  4. Công ty Trách nhiệm hữu hạn B; địa chỉ: Cụm C, Phường L, Thị xã K, Tỉnh Hải Dương.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Đăng K-Giám đốc;

    Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Trọng N- Trưởng phòng quản lý hạ tầng - Công ty Trách nhiệm hữu hạn B; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị Y, sinh năm: 1961; địa chỉ: thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương; có mặt.
  2. Chị Quán Thị Mai H4, sinh năm 1991; địa chỉ: xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người làm chứng: Chị Phạm Thị H5, sinh năm: 1991; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 15/9/2024, tại phòng 201 nhà nghỉ S, địa chỉ số B phố G, khu A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương do chị Bùi Thị L quản lý, tổ công tác Phòng C1 Công an tỉnh H kiểm tra, phát hiện Quán Văn H cất giấu dưới gối trên giường ngủ 01 gói ma túy loại Heroin, H khai gói ma túy do H mua trước đó của nam thanh niên không quen biết ở thành phố Hải Phòng. Hưởng đã sử dụng một phần, còn lại để sử dụng dần. Tại Kết luận giám định số 401 ngày 17/9/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh H xác định: Chất bột màu trắng bên trong gói giấy ghi thu của H là ma túy Heroine, có khối lượng là 0,271 g (Không phẩy hai trăm bảy mươi mốt gam).

Quá trình điều tra vụ án, bị can H tự khai nhận trước đó đã thực hiện 08 hành vi trộm cắp tài sản là dây cáp điện các loại trên địa bàn tỉnh Hải Dương, cụ thể như sau:

Lấn thứ nhất:

Khoảng 03 giờ sáng một ngày giữa tháng 10/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Drastic không đeo biển kiểm soát đến nút giao đèn tín hiệu giao thông đường tỉnh 390 với xã Q, thành phố H. H dùng thanh kim loại hình chữ L có đầu lục giác tháo ốc của 02 lắp trên thân của cột đèn, dùng kìm cắt 29 mét dây cáp điện vỏ bọc bên ngoài màu đen, bên trong có 04 lõi dây đồng, nhãn hiện Cadisun, có thông số: Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4x6 mm² giá trị 3.680.100 đồng của Công ty Cổ phần Đ1 (Kết luận định giá số 210 ngày 14/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hải Dương).

Lần thứ hai:

Khoảng 03 giờ một ngày đầu tháng 02/2024, H điều khiển xe mô tô Honda Airblade, màu đỏ đen, đeo biển kiểm soát 34L1-04085 đến chân C thuộc thôn L, xã T, thị xã K. Bằng thủ đoạn tương tự, H dùng kìm cắt 40 mét dây cáp điện nhãn hiệu Cadisun, thông số: Cu-0,6/1kV-P 1x35 mm², vỏ bọc bên ngoài màu vàng, bên trong có 01 lõi dây đồng giá trị 4.186.720 đồng của Sở Giao thông vận tải tỉnh H (Kết luận định giá số 211 ngày 14/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hải Dương).

Lần thứ 3:

Sau lần thứ hai khoảng 06 ngày, vào lúc 04 giờ sáng, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade đến chân C thuộc thôn L, xã T, thị xã K. H dùng kìm cắt 53 mét dây cáp điện nhãn hiệu Cadisun, có thông số: Cu-0,6/1kV-P 1x35 mm², vỏ bọc bên ngoài màu vàng, bên trong có 01 lõi dây đồng giá trị 5.547.404 đồng của Sở Giao thông vận tải tỉnh H (Kết luận định giá số 211 ngày 14/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hải Dương). Sau khi cắt, H không rút được dây cáp điện nên để lại rồi đi về.

Lần thứ 4:

Khoảng 01 giờ ngày 14/6/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Drastic không đeo biển kiểm soát đến cầu vượt A5-04 nút giao QL38B từ trạm thu phí đi H7 thuộc địa phận thị trấn G, huyện G. Tại đây, H tiếp tục dùng kìm cắt 35 mét dây cáp điện nhãn hiệu Lioa Electrick, thông số kỹ thuật CU/XLPE/PVC/SWA/PVC – 0,6/1KV-4C-35mm², vỏ bọc bên ngoài bằng cao su màu đen, bên trong có 04 lõi đồng giá trị 11.905.355 đồng của Công ty TNHH một thành viên Q và khai thác đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng (Kết luận định giá số 211 ngày 14/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hải Dương).

Lần thứ 5:

Khoảng 02 giờ ngày 17/6/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Drastic không đeo biển kiểm soát đến cầu N thuộc địa phận xã G, huyện G. Tại đây, H dùng kìm cắt 70 mét dây cáp điện nhãn hiệu Lioa Electrick, thông số kỹ thật là CU/XLPE/PVC/SWA/PVC-0,6/1KV-4C-25mm², vỏ bọc bên ngoài bằng cao su màu đen, bên trong có 04 lõi đồng giá trị 17.561.740 đồng của Công ty TNHH một thành viên Q và khai thác đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng (Kết luận định giá số 211 ngày 14/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hải Dương).

Lần thứ 6:

Khoảng 01 giờ ngày 02/7/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Drastic không đeo biển kiểm soát đến cầu H thuộc khu E, phường P, thị xã K. Tại đây, H dùng kìm cắt 90,26 mét dây cáp điện loại Cu/XLPE/PVC/4x10 mm², nhãn hiệu Cadisun giá trị 689.586 đồng của Công ty TNHH B (Kết luận định giá số 1236 ngày 16/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã K).

Lần thứ 7:

Khoảng hơn 02 giờ 30 phút ngày 21/8/2024, H6 khiển xe mô tô nhãn hiệu Drastic không đeo biển kiểm soát đến cầu B thuộc địa phận khu dân cư T, phường Đ, TP C. Tại đây, H dùng kìm cắt trộm 156m dây cáp điện nhãn hiệu CADISUN loại 0.6/Kv Cu/XLPE/PVC/DSTA 3c x16 + 1c x10 giá trị 21.840.000 đồng của Sở giao thông vận tải tỉnh H (Kết luận định giá số 50 ngày 19/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C).

Lần thứ 8:

Khoảng 03 giờ ngày 10/9/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Drastic không đeo biển kiểm soát đến Cầu C thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện N. Bằng thủ đoạn tương tự, Hưởng cắt trộm 79 mét dây cáp điện vỏ bọc bên ngoài màu đen, bên trong có 04 lõi dây đồng, nhãn hiệu Cadisun, có thông số: Cu-0,6/1kV-PVC/XLPE/DSTA/PVC3x16+1x10 mm² giá trị 12.438.076 đồng của Sở Giao thông vận tải tỉnh H (Kết luận định giá số 210 ngày 14/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hải Dương).

Sau khi trộm cắp được dây cáp điện, H mang đến khu đất trống; bãi rác tại bờ đê thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng hoặc Nghĩa trang thôn Đ, xã T, huyện G dùng dao dọc giấy tước vỏ bọc ngoài hoặc đốt vỏ nhựa lấy lõi đồng bên trong mang bán cho chị Phạm Thị H5, sinh năm 1991, ở thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng được khoảng hơn 26.000.000 đồng. H sử dụng chi tiêu cá nhân và mua ma túy về sử dụng.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSHD-P1 ngày 21/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Quán Văn H về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi bị cáo đã thực hiện giống nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo đã tự nguyện khai nhận các hành vi trộm cắp tài sản tại cơ quan điều tra, không bị ai ép phải khai báo không đúng sự thật. Bị cáo đã được Cơ quan điều tra đưa tới tất cả các cột điện mà bị cáo đã cắt trộm dây điện ở đó. Bị cáo không bị oan và rất ân hận về hành vi của mình. Bị cáo bị truy tố xét xử về 2 tội danh là đúng. Bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền như kết quả định giá đối với các tài sản thuộc quản lý của Sở giao thông tỉnh H nay là Sở xây dựng; đồng ý bồi thường theo như yêu cầu của Công ty TNHH MTQ quản lý và khai thác đường ô tô cao tốc Hà Nội- Hải Phòng. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đang bị tạm giam nên sẽ khắc phục sau.

Những người đại diện theo ủy quyền của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo theo pháp luật.

Đại diện Sở Giao thông nay là Sở xây dựng tỉnh H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền thiệt hại về tài sản như kết luận của Hội đồng định giá.

Đại diện Công ty TNHH MTV Q đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 62.000.000đồng.

Đại diện Công ty cổ phần Đ1 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn B không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự mà cho bị cáo số tiền là trị giá tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quán Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Quán Văn H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 05 năm đến 05 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/9/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Quán Văn H phải bồi thường cho Sở giao thông vận tải tỉnh H 44.011.124 đồng; Bồi thường cho Công ty TNHH một thành viên Q và khai thác đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng 62.000.000 đồng; Về vật chứng: Trả lại bà Trần Thị Y 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, đeo biển kiểm soát 34L1-04085. Tịch thu, phát mại sung ngân sách nhà nước 1/3 và trả lại bà Y và chị H5 trị giá 2/3 trị giá xe môtô nhãn hiệu Drastic, màu xanh không đeo biển kiểm soát, số khung RPADCHIUM5AO56177; số máy VUMYG150FMH056177. Tịch thu, cho tiêu hủy: 02 Dây cáp điện bên trong có lõi bằng đồng, độ dài lần lượt là 1m và 1,3 m; 39 cuộn vỏ dây điện bị tước rách, rỗng bên trong, trong đó 19 cuộn trên thân ống dây có in chữ và số đọc được "0.6/1KV CU/XLPE/PVC/DSTA/PVC 3X16+1X10 SQMM HAN SUN ELECTRIC CABLE I0"; 21 cuộn dây thép xoắn có độ dài ngắn khác nhau, 01 bó dây buộc bằng nhựa; 02 kìm bằng kim loại, 04 hộp nhựa (trong đó có tổng cộng 17 lưỡi dao bằng kim loại); 02 thanh kim loại hình lục giác dạng hình chữ L; 02 con dao bằng kim loại, loại dao gấp; 02 con dao loại dọc giấy; 01 bút thử điện; 02 tô vít; 03 dây cao su; 01 bao nilong màu đen; 01 đôi giày vải và 01 mũ lưỡi chai; Mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,225gam ma túy heroin để trong túi nilon màu trắng; 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì. Trả lại cho bị cáo 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đỏ xanh, lắp sim 1: 0388.910.411; sim2: 0567.80.78.78 nhưng tạm giao cho Cục Thi hành án dân sự quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án. Về án phí: Buộc các bị cáo Quán Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.154.520 án phí dân sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với Kết luận giám định, lời khai của bị hại, người liên quan và người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập. Do cần chi tiêu hàng ngày cho bản thân và mua ma túy để sử dụng trái phép nên từ tháng 10/2023 đến ngày 10/9/2024, Quán Văn H đã cắt trộm tổng số 552,26 m dây cáp điện chiếu sáng tại đường giao thông các huyện G, N, thị xã K, thành phố H và thành phố C, tỉnh Hải Dương. Cụ thể là: giữa tháng 10/2023, H cắt trộm dây cáp điện trị giá 3.680.100 đồng của Công ty Cổ phần Đ1; đầu tháng 2/2024, 21/8/2024, 10/9/2024, H thực hiện 04 lần cắt trộm dây cáp điện trị giá 4.186.720 đồng, 5.547.404 đồng, 21.840.000 đồng, 12.438.076 đồng của Sở giao thông vận tải tỉnh H; ngày 14/6/2024, 17/6/2024, H thực hiện 02 lần cắt trộm dây cáp điện trị giá 11.905.355 đồng và 17.561.740 đồng của Công ty TNHH một thành viên Q và khai thác đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng; ngày 02/7/2024, H thực hiện cắt trộm dây cáp điện trị giá 689.586 đồng của Công ty TNHH B. Tổng giá trị tài sản Quán Văn H đã chiếm đoạt là 77.848.981 đồng. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 15/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H phát hiện Hưởng cất giấu 0,271g (Không phẩy hai trăm bảy mươi mốt gam) ma túy, loại Heroine để sử dụng tại phòng 201 nhà nghỉ S, địa chỉ số B phố G, khu A, thị trấn G, huyện G do H thuê ở.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi cất giấu 0,271g ma túy Heroine mục đích để sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội nên đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Trong suốt quá trình thực hiện các hành vi phạm tội, bị cáo không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập nào khác mà sử dụng số tiền chiếm đoạt được từ 08 lần phạm tội để chi tiêu các vấn đề thiết yếu của cá nhân bị cáo và mua ma túy sử dụng nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tự thú về 08 hành vi trộm cắp tài sản nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nhưng lại phạm tội do cố ý, 08 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” và “phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo đã bị xét xử 02 lần và bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn liên tiếp thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản, lấy tiền chiếm đoạt được làm nguồn sống chính, thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo gây thiệt hại về tài sản cho các bị hại, làm ảnh hưởng rất xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, ảnh hưởng đến việc vận hành bình thường của các tuyến đường, làm mất an toàn cho người tham gia giao thông và gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng đối với các hành vi của bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, Sở giao thông vận tải nay là Sở xây dựng tỉnh H yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá tài sản như kết luận của Hội đồng định giá là 44.012.200đồng; Công ty TNHH một thành viên Q đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 62.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường cho hai đơn vị trên số tiền họ yêu cầu. Công ty cổ phần Đ1 mới và Công ty TNHH B không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự mà cho bị cáo. Vì vậy, có cơ sở buộc bị cáo phải bồi thường cho hai bị hại theo quy định tại Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự.

[7] Về vật chứng:

[7.1] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, đeo biển kiểm soát 34L1-040.85 là tài sản của bà Trần Thị Y, mẹ đẻ bị cáo. Tại phiên tòa bà Y xác định không biết việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị được nhận lại tài sản nên cần trả lại cho bà Y là phù hợp.

[7.2] Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Drastic, màu xanh không đeo biển kiểm soát, số khung RPADCHIUM5AO56177; số máy VUMYG150FMH056177 là tài sản của ông Quán Văn H1 và bà Trần Thị Y. Ông H1 chết, bị cáo, bà Y và chị H5 là ba người thừa kế của ông H1. Bị cáo sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tôi nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1/3 trị giá chiếc xe, trả lại bà Y và chị H5 mỗi người 1/3 trị giá chiếc xe.

[7.3] Đối với 02 đoạn dây cáp điện bên trong có lõi bằng đồng, độ dài lần lượt là 1m và 1,3 m; 39 cuộn vỏ dây điện bị tước rách, rỗng bên trong, trong đó 19 cuộn trên thân ống dây có in chữ và số đọc được "0.6/1KV CU/XLPE/PVC/DSTA/PVC 3X16+1X10 SQMM HAN SUN ELECTRIC CABLE I0"; 21 cuộn dây thép xoắn có độ dài ngắn khác nhau, 01 bó dây buộc bằng nhựa là vật chứng của vụ án, tại phiên tòa các bị hại không đề nghị nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[7.4] Đối với 02 kìm bằng kim loại, 04 hộp nhựa (trong đó có tổng cộng 17 lưỡi dao bằng kim loại); 02 thanh kim loại hình lục giác dạng hình chữ L; 02 con dao bằng kim loại, loại dao gấp; 02 con dao loại dọc giấy; 01 bút thử điện; 02 tô vít; 03 dây cao su; 01 bao nilong màu đen; 01 đôi giày vải và 01 mũ lưỡi chai là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.

[7.5] Đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đỏ xanh, lắp sim 1: 0388.910.411; sim2: 0567.80.78.78 thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giao cho C Thi hành án dân sự quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án.

[7.6] Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,225gam ma túy heroin để trong túi nilon màu trắng; 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì là những vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án và phải bồi thường cho bị hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Những vấn đề khác:

[9.1] Đối với người bán ma túy cho H, do không xác định được lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

[9.2] Quá trình điều tra, H còn khai nhận khoảng 2 giờ, một ngày giữa năm 2024, H dùng kìm cắt trộm 85,8 m dây cáp điện tại cầu vượt Quốc lộ E thuộc thị trấn P, huyện K sang xã P, huyện K. Đến nay, do chưa làm việc được với Công ty Cổ phần C2, địa chỉ: số G, đường A, khu phố C, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh là nhà thầu thi công nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[9.3] Đối với hành vi điều khiển xe mô tô không đeo biển kiểm soát, không đội mũ bảo hiểm và sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo H, Công an thành phố C và Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với H là phù hợp.

[9.4] Đối với chị Phạm Thị H5 mua lõi dây đồng của H nhưng không biết H phạm tội mà có; Bà Trần Thị Y không biết H sử dụng 02 xe mô tô của gia đình làm phương tiện phạm tội nên không có căn cứ xử lý.

[9.5] Đối với chị Bùi Thị L là quản lý nhà nghỉ S đã chủ động phát hiện, trình báo Cơ quan công an về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà nghỉ, do vậy không xử lý hành chính đối với chị L là đúng quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 55 Bộ luật Hình sự; Áp dụng thêm điểm r khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 đối với tội Trộm cắp tài sản;

    Căn cứ: Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quán Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Quán Văn H 04 (bốn) năm tù về tội Trộm cắp tài sản; 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/9/2024.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  5. Về trách nhiệm dân sự:
    • + Buộc bị cáo Quán Văn H phải bồi thường cho Sở giao thông vận tải nay là Sở xây dựng tỉnh H số tiền 44.012.200đồng (bốn mươi bốn triệu không trăm mười hai nghìn hai trăm đồng);
    • + Buộc bị cáo Quán Văn H phải bồi thường Công ty TNHH một thành viên Q và khai thác đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng 62.000.000đồng (sáu mươi hai triệu đồng);

    Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  6. Về vật chứng:
    • 6.1. Trả lại bà Trần Thị Y một xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, đeo biển kiểm soát 34L1-04085.
    • 6.2. Tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước 1/3 và trả lại bà Trần Thị Y, chị Quán Thị Mai H4 mỗi người 1/3 trị giá xe môtô nhãn hiệu Drastic, màu xanh không đeo biển kiểm soát, số khung RPADCHIUM5AO56177; số máy VUMYG150FMH056177.
    • 6.3. Tịch thu, cho tiêu hủy: 02 đoạn dây cáp điện bên trong có lõi bằng đồng, độ dài lần lượt là 1m và 1,3 m; 39 cuộn vỏ dây điện bị tước rách, rỗng bên trong, trong đó 19 cuộn trên thân ống dây có in chữ và số đọc được "0.6/1KV CU/XLPE/PVC/DSTA/PVC 3X16+1X10 SQMM HAN SUN ELECTRIC CABLE I0"; 21 cuộn dây thép xoắn có độ dài ngắn khác nhau, 01 bó dây buộc bằng nhựa; 02 kìm bằng kim loại, 04 hộp nhựa (trong đó có tổng cộng 17 lưỡi dao bằng kim loại); 02 thanh kim loại hình lục giác dạng hình chữ L; 02 con dao bằng kim loại, loại dao gấp; 02 con dao loại dọc giấy; 01 bút thử điện; 02 tô vít; 03 dây cao su; 01 bao nilong màu đen; 01 đôi giày vải và 01 mũ lưỡi chai; Mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,225gam ma túy heroin để trong túi nilon màu trắng; 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì.
    • 6.4. Trả lại cho bị cáo 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đỏ xanh, lắp sim 1: 0388.910.411; sim2: 0567.80.78.78, điện thoại đã qua sử dụng nhưng tạm giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án.

      (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương).

  7. Về án phí: Buộc các bị cáo Quán Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Vụ Kiểm tra giám đốc I - TANDTC;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu: HSVA, THS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự: trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quán Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger