|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HS-PT Ngày: 03/4/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Nguyễn Xuân Trường |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Cường |
| Bà Nguyễn Thị Thu Hiền | |
| - Thư ký phiên toà: | Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:
Ông Phạm Duy Thơi - Kiểm sát viên.
Ngày 03/4/2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLPT-HS ngày 24/01/2025, do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Xuân A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2024/HS-ST ngày 17/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo kháng cáo:
Đoàn Xuân A, sinh năm 1989 tại xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp lao động tự do; Trình độ văn hóa 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Đoàn Văn B và con bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1991 và hai con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị: Lê Viết H1, Nguyễn Văn T1, Cao Văn T2 (Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2021, Lê Viết H1 là nhân viên KCS (kiểm tra chất lượng hàng hóa) của Công ty Cổ phần K (viết tắt là Công ty K), địa chỉ xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Đầu năm 2022, H1 được phân công đến làm việc tại kho nguyên liệu nông sản do Công ty K thuê tại kho cảng của Công ty TNHH T4 (viết tắt là Công ty T5), địa chỉ thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam. Việc trông giữ, quản lý hàng hóa trước khi xuất kho do nhân viên Công ty K thực hiện và chịu trách nhiệm. Nhiệm vụ của H1 tại kho là kiểm tra chất lượng hàng hóa, vận hành máy cân điện tử, quản lý, giám sát việc nhập, xuất hàng hóa.
Nguyễn Văn T1 và Cao Văn T2 là nhân viên lái xe container của Công ty TNHH P (viết tắt là Công ty P), địa chỉ phường H, quận H, thành phố Hải Phòng. Công ty P thỏa thuận với Công ty TNHH T6 (viết tắt là Công ty T6), ở cùng địa chỉ về việc liên kết các đầu xe vận chuyển hàng hóa nên từ tháng 01/2024, T1 và T2 thường xuyên được phân công chở hàng cho Công ty T6. Quá trình chở hàng, T1 và T2 quen biết H1.
Ngày 01/01/2024 và ngày 15/3/2024, Công ty K ký hợp đồng bán 23.350.000kg lúa mì cho Công ty cổ phần Đ (viết tắt là Công ty A1) là công ty con của Công ty K), địa chỉ phường T, quận N, thành phố Hà Nội. Lúa mì Công ty Al mua của Công ty K được để tại kho của Công ty K (thuê tại kho cảng Công ty T5) và Công ty K có trách nhiệm quản lý. Công ty A1 ký hợp đồng bán lúa mì cho Công ty TNHH H4 (viết tắt là Công ty H4), địa chỉ khu công nghiệp Đ mở rộng, thuộc địa phận thị trấn L, huyện C Công ty A1 ký hợp đồng thuê Công ty T5 vận chuyển hàng hóa, Công ty T5 ký hợp đồng thuê Công ty T6 vận chuyển hàng hóa.
Chiều 01/8/2024, H1 nảy sinh ý định lấy hàng của Công ty K nên đã gửi qua zalo cho T2 danh sách BKS các xe của Công ty T6 đến lấy hàng, hỏi T2 có quen biết với lái xe nào không để H1 kết hợp lấy hàng. Thức thấy trong danh sách có xe ôtô BKS 15C–300.60, rơ-mooc 15R-136.55 của T1 nên bảo H1 trao đổi với T1. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe ôtô đến kho hàng của Công ty K lấy lúa mì giao đến Công ty H4. H1 gặp T1 nói H1 có thể gian lận lúa mì khi cân xuất kho để T1 mang ra ngoài bán, lấy tiền chia nhau và hỏi T1 có làm không thì T1 đồng ý. Do chưa tin T1 nên H1 sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy S21, lắp sim số 0989823571 và số 0363172747 gọi qua ứng dụng zalo bảo T2 hỏi T1 có làm được không. Thức sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A31 lắp sim số 0981700568 gọi đến số 0386212757 của T1 nói hôm nay có thể lấy thừa lúa mì ra khỏi kho, T1 có xử lý được không thì T1 bảo làm được. H1 bảo T2 hướng dẫn T1 khi điều khiển xe lên bàn cân thì làm lệch một hàng bánh xe ra khỏi bàn cân để giảm khối lượng xe hàng, T1
đồng ý thực hiện theo. Sau khi lúa mì được chuyển lên đầy thùng xe, T1 điều khiển xe ra khu vực bàn cân. H1 thấy phía trước xe của T1 có 01 xe chuyển tải của Công ty T5 chuẩn bị lên máy cân để xuất hàng khỏi kho. Khi xe chuyển tải cân xong (H1 đã ấn phiếu cân) và bắt đầu di chuyển khỏi bàn cân, H1 quan sát vào thời điểm một hàng bánh xe chuyển tải di chuyển ra khỏi bàn cân, số cân hiển thị trên màn hình bàn cân giảm xuống khoảng 5 đến 6 tấn (còn 51,630 kg) thì H1 nhấn nút cân lần 2 để lấy khối lượng này làm căn cứ in phiếu cân cho xe của T1 (xe của T1 không cần cân nữa). H1 bảo T2 gọi nói T1 điều khiển xe ra cân bình thường, khi T1 điều khiển xe lên bàn cân, H1 không ấn phiếu cân mà chỉ quan sát màn hình máy cân để biết khối lượng xe và hàng là khoảng 58,8 tấn. Sau đó, H1 đưa cho T1 phiếu cân có tổng trọng lượng là 51,630 kg, trong đó khối lượng xe là 17,630kg, khối lượng hàng là 34.000kg. H1 bảo với T1 đã lấy được khoảng 07 tấn lúa mì, T1 mang đi bán lấy tiền chia nhau, T1 đồng ý và điều khiển xe đến huyện C để giao hàng cho Công ty H4.
Do T1 quen biết với Đoàn Xuân A, bán nước giải khát và thu mua dầu thải, hàng hóa nông sản từ các xe vận tải tại khu vực rìa Quốc lộ E chiều Hải Phòng - Hà Nội thuộc thôn B, thị trấn L, huyện C nên T1 sử dụng điện thoại di động Iphone 11 Pro max, lắp sim số 0386212757 gọi đến sim số 0963196665 của Xuân A đặt vấn đề bán khoảng 07 tấn lúa mì và bảo Xuân A tìm địa điểm có bàn cân để lấy lúa mì từ trên xe xuống. Xuân A hiểu là T1 có thể rút trộm số lượng lúa mì trong khi vận chuyển hàng cho Công ty bán cho Xuân A nhưng vẫn đồng ý mua và hẹn T1 đến quán của Xuân A. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Xuân A hướng dẫn T1 điều khiển xe vào trong sân Công ty TNHH T7 (viết tắt là Công ty T7) ở cạnh quán của Xuân A để cân hàng. Xuân A gặp ông Vũ Trọng C là bảo vệ của Công ty T7 hỏi cho nhờ máy cân điện tử thì ông C đồng ý. T1 điều khiển xe lên máy cân cả hàng và xe có tổng trọng lượng 58,6 tấn, sau đó T1 di chuyển xe ra sân của Công ty T7 mở thùng xe xả lúa mì xuống bạt Xuân A trải sẵn. Lúc này, Xuân A gọi điện cho ông Đoàn Văn B, bà Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Văn M, sinh năm 2007 (là bố, mẹ, vợ và cháu của Xuân A) đến Công ty T7 giúp đóng lúa mì vào bao.
Sau khi xả một lượng lúa mì xuống bạt, T1 đóng thùng xe rồi điều khiển xe lên bàn cân điện tử thấy tổng khối lượng xe và hàng còn hơn 50 tấn. Thấy đã xuống hàng nhiều quá, sợ bị phát hiện, T1 bàn với Xuân A xúc lúa mì đổ lại thùng xe cho phù hợp với phiếu cân. T1 điều khiển xe ra sân để Xuân A và người nhà xúc lúa mì vào bao dứa rồi cân từng bao xác định khối lượng đổ lại thùng xe khoảng 1,4 tấn. Sau đó, T1 điều khiển xe lên bàn cân điện tử thấy số lượng hàng đã gần đủ theo phiếu cân. T1 và Xuân A thống nhất tổng khối lượng
lúa mì T1 bán cho Xuân A là 7,4 tấn, giá là 5.600 đồng/01kg, thành tiền là 40.900.000đ (trừ 500.000 đồng tiền hàng hao hụt). Xuân A sử dụng tài khoản số [...] Ngân hàng V chuyển khoản số tiền 17.000.000đ đến số tài khoản 0386212757 Ngân hàng MSB của T1 đồng thời đưa cho T1 20.000.000đ, nợ T1 3.900.000đ. Sau đó, T1 điều khiển xe đến Công ty H4 giao hàng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H1 gọi điện bảo T2 hỏi T1 đã bán xong lúa mì chưa thì chuyển tiền cho H1. T2 bảo T1, T1 bảo bán lúa mì được 40.000.000đ, T1 chuyển khoản 20.000.000đ đến số tài khoản 0981700568 Ngân hàng MSB của T2 để T2 chuyển cho H1. T2 nói với H1 là T1 bán được 40.000.000đ, 2 anh em (H1 và T1) chia đôi nhưng T2 xin H1 500.000đ thì H1 đồng ý. Sau đó, T2 chuyển khoản 19.500.000đ đến số tài khoản 106869150549 Ngân hàng V của H1, T2 được 500.000₫.
Sau khi mua và đóng được tổng 124 bao lúa mì, Xuân A sử dụng điện thoại di động Iphone 12 Promax, lắp sim số 0963196665 gọi đến số 0978970540 của chị Vũ Thị T3 ở thôn P, xã C, huyện C (làm nghề thu mua lúa mì) nói có lúa mì bán thì chị T3 đồng ý mua (chị T3 không biết về nguồn gốc lúa mì). Sau đó, Xuân A gọi điện cho anh Nguyễn Sĩ H2 ở thôn T, xã Đ, huyện C (làm nghề lái xe tải chở hàng thuê) bảo anh H2 đến Công ty T7 chở lúa mì cho Xuân A. Khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, anh H2 lái xe tải BKS 34C–368.58 đến Công ty T7, Xuân A và người nhà bốc 40 bao lúa mì lên thùng xe để anh H2 và Xuân A chở đến nhà chị T3. Do chị T3 không có nhà nên Xuân A giao 40 bao lúa mì cho anh Hoàng Văn H3 (chồng của chị T3). Xuân A và anh H2 quay lại Công ty T7 chuyển tiếp 44 bao lúa mì lên thùng xe mang đến nhà chị T3. Đến 22 giờ 10 phút cùng ngày, trong lúc anh H2 và Xuân A đỗ xe để chuẩn bị giao lúa mì cho anh H3 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C kiểm tra lập biên bản vụ việc, Đoàn Xuân A khai nhận nguồn gốc 44 bao lúa mì trên xe là do mua của T1 lấy hàng từ Công ty mà có. Cơ quan điều tra quản lý xe ôtô BKS 34C-368.58 và 44 bao lúa mì. Ngày 02/8/2024, Xuân A giao nộp 40 bao lúa mì, 01 tấm bạt màu xanh, 01 cân đồng hồ. Anh Hoàng Văn H3 giao nộp 40 bao lúa mì. Cơ quan điều tra cân 84 bao lúa mì thu của Đoàn Xuân A có khối lượng là 4.979kg; cân 40 bao lúa mì thu của anh H3 là 2.400kg.
Ngày 07/8/2024, Công ty K có đơn trình báo về việc bị mất khoảng 7,4 tấn lúa mì tại kho của Công ty T5.
Ngày 14/8/2024, T2 đến Công an huyện C đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp điện thoại di động Samsung Galaxy A31 lắp sim số 0981700568. Ngày 02/8/2024, 05/8/2024 và 06/8/2024, Cơ quan điều tra quản lý điện thoại di động Iphone 12 Promax, lắp sim số 0963196665 của Xuân
A; điện thoại di động Samsung Galaxy S21, lắp sim số 0989823571 và số 0363172747 của H1 và điện thoại di động Iphone 11 Pro max, lắp sim số 0386.212.757 của T1. Ngày 31/10/2024, gia đình H1 nộp lại số tiền 19.500.000đ, gia đình T2 nộp lại 500.000đ; T1 nộp lại 17.000.000đ để khắc phục hậu quả.
Kết luận định giá tài sản số 44 ngày 08/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện C, kết luận: 7.379kg lúa mì xuất xứ Brazil trị giá 47.078.020đ.
Ngày 02/8/2024, 08/8/2024, 07/10/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ôtô đầu kéo BKS 15C–300.60, rơ-mooc 15R-136.55 cho Công ty P; đã trả lại xe ôtô tải BKS 34C-368.58 cho anh Nguyễn Sĩ H2; đã trả lại 01 tấm bạt, 01 cân đồng hồ cho anh Trịnh Văn C1. Công ty K đã nhận lại 124 bao lúa mì có tổng khối lượng 7.379kg và không còn yêu cầu bồi thường khoản nào khác.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2024/HS-ST ngày 17/12/2024, Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương: Căn cứ khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Đoàn Xuân A phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có;
Xử phạt bị cáo Đoàn Xuân A 11 (mười một) tháng tù, thời hạn tính từ ngày thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đoàn Xuân A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa: Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương sau khi tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết mới phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2024/HS-ST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt tù đối với bị cáo Đoàn Xuân A như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Xuân A, phạm “Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Xuân A 11 (mười một) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 22 (hai mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đoàn Xuân A cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về án phí: Bị cáo Đoàn Xuân A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
- Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo.
[2]. Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2024, tại kho hàng Công ty K ở thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam, Lê Viết H1 là nhân viên của Công ty đã lợi dụng nhiệm vụ được giao giám sát, quản lý, cân xuất hàng hóa đã cấu kết với Cao Văn T2 và Nguyễn Văn T1 (là lái xe vận chuyển hàng) chiếm đoạt 7.379kg lúa mì trị giá 47.078.020₫ của Công ty K. Sau đó, Nguyễn Văn T1 mang 7.379kg lúa mì đến thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương bán cho Đoàn Xuân A. Mặc dù không được hứa hẹn trước nhưng Đoàn Xuân A biết số lượng lúa mì Nguyễn Văn T1 bán cho mình là do T1 phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua. Đến 22 giờ 10 phút cùng ngày, khi Xuân A mang số lúa mì mua được của T1 đi bán thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng. Bị cáo Đoàn Xuân A mua lúa mì của bị cáo Nguyễn Văn T1 trong khi biết rõ lúa mì là do bị cáo T1 trộm cắp mà có nên hành vi của bị cáo Đoàn Xuân A đã cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng tuyên xử phạt bị cáo Đoàn Xuân A về tội danh, điều khoản như bản án sơ thẩm đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an
ninh, trật tự, an toàn xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả lại bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tại cấp phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo, và xuất trình thêm căn cứ đã nộp án phí sơ thẩm; ngoài ra bị cáo còn ủng hộ quỹ “Vì người nghèo” năm 2024 tại xã C nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15/5/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên cần xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đoàn Xuân A, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2024/HS-ST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng về phần hình phạt tù đối với bị cáo Đoàn Xuân A.
[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.
[5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đoàn Xuân A; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2024/HS-ST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng về phần hình phạt tù đối với bị cáo Đoàn Xuân A như sau:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Xuân A phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Xuân A 11 (mười một) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 22 (hai mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 04/4/2025).
Giao bị cáo Đoàn Xuân A cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đoàn Xuân A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Trường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Văn Cường |
Nguyễn Thị Thu Hiền |
Nguyễn Xuân Trường |
Bản án số 31/2025/HS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 31/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Xuân A tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
