Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 26 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đinh Thanh Hoàn
  2. Ông Nguyễn Thế Căn

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lâm, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà: ông Nguyễn Hùng Vĩ, Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025; đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình H, tên gọi khác: không, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1993, tại huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình H1 và bà Phạm Thị X; vợ, con : chưa; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị tạm giam từ ngày ngày 21/11/2024 đến ngày 03/01/2025 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Luật sư Chu Đình H2 – Công ty L1. Địa chỉ: số E, ngõ A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Thuộc đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

- Bị hại:

1/ Cháu Phạm Minh D, sinh ngày 28/10/2007.

- Người đại diện hợp pháp của cháu D: anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị N là bố mẹ đẻ.

Đều có nơi cư trú: thôn A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Đều vắng mặt

2/ Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Hải A, sinh ngày 21/3/2007 (đã chết): chị Vy Thị Là L mẹ đẻ.

- Người đại diện theo ủy quyền của chị Vy Thị L: ông Nguyễn Tuấn N1. Nơi cư trú: khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1978. Nơi cư trú: khu B, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

2. Công ty Cổ phần B2 Địa chỉ: số B đường Đ, phường L, thành phố H. Đại diện hợp pháp: ông Hoàng Xuân T1. Vắng mặt.

- Người làm chứng: anh Đỗ Văn B1. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 12/11/2024, Nguyễn Đình H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 89H-014.60, đi trên Quốc lộ A (đường Đ), hướng từ xã H đến Cửa khẩu B3. Khi đến Km 287+500 là khu vực vòng xuyến Cột đồng hồ, nơi giao nhau giữa Quốc lộ A với đường T, đường T và đường H đoạn thuộc phường T, thành phố M, có hệ thống đèn tín hiệu giao thông, vạch sơn gờ giảm tốc. H đã điều khiển xe chuyển làn đường từ trái sang phải (theo hướng đi của xe ô tô), không chú ý quan sát, không giảm tốc độ và giữ khoảng cách theo quy định, nên xe ô tô do H điều khiển đã đâm vào phía sau xe máy nhãn hiệu Halim, biển số 14AL-013.59 do cháu Phạm Minh D, sinh năm 2007, trú tại: thôn A, xã H, thành phố M điều khiển, phía sau chở cháu Nguyễn Hải A, sinh năm 2007, trú tại: thôn I, xã H, thành phố M đang đi phía trước cùng chiều, gây tai nạn. Hậu quả: cháu D và Hải A bị thương được đưa đến Trung tâm Y tế thành phố M cấp cứu, sau đó do thương tích nặng cháu Hải A bị tử vong, xe máy và xe ô tô bị hư hỏng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện (theo hướng từ cầu H đến Cửa khẩu Quốc tế M), trong điều kiện trời tối, ánh sáng đèn đường kết hợp đèn pin, xác định: hiện trường đã bị xáo trộn, còn nguyên các dấu vết và phương tiện liên quan, nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu. Nơi xảy ra tai nạn tại Km 287+500 Quốc lộ A, đoạn thuộc phường T, thành phố M, là khu vực vòng xuyến Cột đồng hồ, nơi giao nhau giữa Quốc lộ A (đi Cửa khẩu Quốc tế M) với đường T (đi T), đường T (đi H) và đường H (đi cầu K). Vòng xuyến có bán kính 12,6m, tâm vòng xuyến là Cột đồng hồ. Mặt đường trải bê tông nhựa, phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế; điểm gần nhất từ mép vòng xuyến đến mép đường bên phải là 21,6m. Đường Quốc lộ 18A là đường hai chiều, giữa đường có giải phân cách cứng phân chia hai chiều đường. Phần đường bên phải rộng 10,4m, giữa đường có vạch sơn liền màu trắng chia thành hai làn đường, mỗi làn rộng 5,2m; ngay trước khi vào vòng xuyến trên mặt đường có các vạch sơn gờ giảm tốc màu vàng, có vạch dừng xe chờ đèn tín hiệu giao thông; trên lề đường bên phải có biển báo R.303 “Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến”, trên giải phân cách cứng giữa đường có hệ thống cột đèn tín hiệu giao thông, cột mốc lộ giới H5/287 và cột đèn chiếu sáng.

Trên mặt đường có vết cày xước, dài không liên tục, kích thước (7,6x0,1)m, hướng Quốc lộ A vào trong vòng xuyến (ký hiệu số 01), từ điểm đầu vết đến mép đường bên phải là 3,7m, đến cột mốc lộ giới H5/281 là 27,8m, đến vạch dừng xe là 05m, đến tâm vòng xuyến là 41,8m, đến biển báo R.303 là 39m và cách cột đèn chiếu sáng ở phía cuối giải phân cách cứng là 11,2m; từ điểm cuối vết đến mép đường bên phải là 5,66m. Cách điểm cuối vết (số 01) 3,2m là vết cày xước mặt đường không liên tục, dài 05m, hướng kéo dài vào trong vòng xuyến (ký hiệu số 02), từ điểm đầu vết đến mép đường bên phải là 5,9m, đến tâm vòng xuyến là 33,4m; điểm cuối vết nằm tại gầm, cần để chân bên phải của xe gắn máy biển số 14AL-013.59. Cách điểm đầu vết (số 02) 1,6m là vùng máu bắn tóe, rải rác mảnh tổ chức cơ thể người, trên diện (2,5x1,2)m, hướng vào trong vòng xuyến (ký hiệu số 03), từ điểm đầu vết đến mép đường bên phải là 4,5m, điểm cuối vết gần nhất cách mép đường bên phải là 4,3m. Xe máy biển số 14AL-013.59, trong tư thế đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng đường H, đuôi xe hướng mép đường bên phải (ký hiệu số 04), từ tâm trục bánh trước đến mép đường bên phải là 8,0m và đến tâm vòng xuyến là 29m, từ tâm trục bánh sau đến mép đường bên phải là 7,2m. Cách tâm trục bánh sau xe máy (số 04) 2,5m là tâm đám máu chảy loang, màu nâu đỏ, trên diện (02x02)m (ký hiệu số 05), từ tâm đám máu đến mép đường bên phải là 5,2m và đến tâm vòng xuyến là 30,6m. Cách tâm đám máu (số 05) 1,5m là tâm vùng mảnh vỡ nhựa, dép, mũ bảo hiểm, nằm rải rác trên mặt đường, trên diện (12x08)m, kéo dài từ cuối vết (số A) đến qua vết (số E) (ký hiệu số 06), từ tâm vùng đến mép đường bên phải là 05m và đến tâm vòng xuyến là 30,7m. Cách tâm vùng mảnh vỡ (số F) 20m là vết phanh màu xám đen, dài 06m, điểm rộng nhất là 0,12m, hướng từ đường Q kéo dài sang hướng đi đường T (ký hiệu số 07), từ điểm đầu vết đến mép đường bên phải là 4,1m, điểm cuối vết nằm tại bánh sau bên phải xe ô tô đầu kéo biển số 89H-014.60. Cách điểm đầu vết phanh (số 07) 03m là vết phanh màu xám đen, dài 4,2m, điểm rộng nhất là 0,12m, song song với vết (số G), hướng từ đường Q kéo dài sang hướng đi đường T (ký hiệu số 08), từ điểm đầu vết đến mép đường bên phải là 6,6m và đến tâm vòng xuyến là 32,2m; điểm cuối vết nằm tại bánh sau bên trái của xe ô tô đầu kéo biển số 89H-014.60. Xe ô tô đầu kéo biển số 89H-014.60, trong tư thế đỗ, đầu xe hướng đường T, đuôi xe hướng Quốc lộ A, từ tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau cùng bên phải đến mép đường bên phải lần lượt là 3,8m và 4,2m, từ tâm trục bánh xe sau cùng bên trái đến tâm vòng xuyến là 35,2m.

Tại biên bản khám xe ô tô biển số 89H-014.60, thể hiện: biển số phía trước đầu xe bị cong vênh, móp méo, bẹp lõm, hướng từ trước về sau, từ ngoài vào trong, kích thước (23,5x17)cm, bề mặt bị trầy xước sơn và kim loại, tâm vùng bẹp lõm và trầy xước cách đất 65cm; mặt trước ba đờ sốc phía trước bị trầy xước nhựa, màu nâu trắng, kích thước (10x05)cm, hướng từ trên xuống dưới, điểm cao nhất cách đất 44cm, điểm thấp nhất cách đất 35cm.

Tại biên bản khám xe máy biển số 14AL-013.59: mặt ngoài cụm đèn xi nhan phía trước bên phải bị mài xước nhựa, kích thước (03x04)cm; đầu cần tay phanh và tay ghi đông bên phải bị mài xước kim loại và nhựa; đầu mui chắn bùn phía trước bị mài xước nhựa; đầu cần phanh chân, cần để chân phía trước và sau bên phải bị xước kim loại, bám dính mạt đường màu trắng; ống xả bị gãy rời, mài xước kim loại; đuôi hộp xích bị cong vênh, móp méo, đẩy chùn, hướng từ sau về trước từ trái sang phải; biển số gắn phía sau cong vênh, móp méo, gãy vỡ, đẩy chùn, hướng từ sau về trước, từ dưới lên trên.

Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu giữ 01 thẻ nhớ camera giám sát hành trình và 01 đĩa CD chứa video hình ảnh, nội dung được xác định là hình ảnh diễn biến xảy ra vụ tai nạn.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 373/KLGĐTT-TTPY ngày 13/11/2024, của Trung tâm Pháp y - Sở Y, kết luận: nguyên nhân cháu Nguyễn Hải A tử vong do chấn thương sọ não, dập não, chết não + đa chấn thương.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể trên người sống số 868/KL GĐCT-TTPY ngày 31/12/2024, của Trung tâm P - Sở Y, đối với cháu Phạm Minh D, như sau: chấn thương đùi cẳng chân hai bên làm gẫy xương bánh chè phải đã được phẫu thuật kết hợp xương bằng chỉ thép; gãy mâm chày hai bên, hiện tại hạn chế vận động khớp gối hai bên, tầm vận động khớp gối trái gấp gối 800, duỗi gối 00, khớp gối phải gấp gối 1000, duỗi gối 00; lóc bong hoàn toàn điểm bám gân bánh chè đã được khâu cố định điểm bám gân bánh chè bằng chỉ thép; sẹo mặt trước gối phải kích thước trung bình, gối trái và mu chân trái kích thước lớn; 04 sẹo dẫn lưu hai gối kích thước nhỏ; nhiều vết biến đổi rối loạn sắc tố da ở đùi cẳng chân hai bên, mặt sau vai trái và 1/3 mặt ngoài cánh tay phải. Kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 46% sức khỏe.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1565/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố M, kết luận: xe gắn máy nhãn hiệu Halim Sirius, biển số 14AL-013.59 bị hư hỏng, thiệt hại 1.760.000 đồng; xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu FOTON, biển số 89H-014.60 bị hư hỏng, thiệt hại 423.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình cháu Hải A số tiền 250.000.000 đồng; cháu D số tiền 60.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 672/CT-VKSMC ngày 28 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Nguyễn Đình H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo có lời khai phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

Bị hại cháu Phạm Minh D vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: chiều ngày 12/11/2024 cháu D điều khiển xe máy nhãn hiệu Halim, BKS 14AL-013.59 chở Hải A ngồi sau, khi đi đến đoạn đường khu vực vòng xuyến cột đồng hồ thuộc phường T, thành phố M thì bất ngờ bị xe ô tô đầu kéo đi phía sau tăng tốc độ rồi đâm vào đuôi xe máy do D điều khiển đẩy cả xe máy, D và Hải A ngã xuống đường rồi D bị cuốn vào gầm xe ô tô đầu kéo nên bị chiếc xe này đè vào hai chân. Xe ô tô đầu kéo tiếp tục đi về phía trước một đoạn rồi dừng lại, lúc này D thấy Hải A đã bất tỉnh, còn hai chân D bị thương nặng. Sau đó, người điều khiển xe ô tô đầu kéo cùng một số người dẫn đến đưa D và Hải A đi cấp cứu.

Người làm chứng anh Đỗ Văn B1 vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: khoảng 16 giờ 45 phút ngày 12/11/2024, anh B1 nhìn thấy tại khu vực vòng xuyến, cột đồng hồ thuộc phường T, thành phố M chiếc xe ô tô đầu kéo BKS 89H-014.60 và chiếc xe máy BKS 14AL-013.59 trên xe có hai người ( sau này anh mới biết tên là D và Hải A) đã va chạm nhau, xe ô tô đầu kéo đã đâm vào đuôi xe máy. Sau khi va chạm xảy ra, xe máy chở D và Hải A bị đổ ngã xuống đường, tuy nhiên xe ô tô đầu kéo BKS 89H-014.60 không giảm tốc độ mà tiếp tục chuyển hướng chếch sang phải hướng về phía đường T. Khi xe ô tô đầu kéo đẩy xe máy BKS 14AL-013.59 di chuyển một đoạn đường trong khu vực vòng xuyến đến gần đầu đường T thì mới dừng lại. Sau khi tai nạn xảy ra, cả D và Hải A đều bị thương tích, người nam giới điều khiển xe ô tô đầu kéo xuống xe kiểm tra thương tích của D và Hải A, sau đó người này cùng người dân gọi xe đưa D và Hải A đi cấp cứu.

Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Minh D: anh Phạm Văn T, Phạm Thị N2 đều vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện và tại đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường chi phí điều trị thương tích với số tiền 60.000.000 đồng gia đình cháu Phạm Minh D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và có yêu cầu xin giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Hải A (đã chết): chị Vy Thị L và người đại diện theo ủy quyền của chị Vy Thị L, ông Nguyễn Tuấn N1 đều vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện: sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo và gia đình đã bồi thường số tiền 255.000.000 đồng, gia đình cháu Hải A không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và có yêu cầu giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: khoảng năm 2022, ông B mua chiếc xe máy nhãn hiệu Halim, BKS 14AL-013.59. Ông B đã bán lại chiếc xe máy trên cho gia đình cháu D, nên ông không có yêu cầu gì.

Đại diện hợp pháp cho Công Ty Cổ phần B4 ông Hoàng Xuân T1 vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: việc Nguyễn Đình H làm lái xe cho Công ty Cổ phần B4 có hợp đồng thỏa thuận Hòa phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với hành vi gây tai nạn. Về phần thiệt hại đối với xe bị thiệt hại nhỏ, không đáng kể, công ty không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố tại Bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đình H từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát bị cáo trong thời gian thử thách.

Về phần dân sự: bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình cháu Nguyễn Hải A số tiền 250.000.000 đồng, chi phí khám và điều trị thương tích cho cháu Phạm Minh D số tiền 60.000.000 đồng, bị hại, đại diện các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không đề cập.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an thành phố M đã trả lại chiếc xe ô tô và mô tô liên quan đến vụ án cho chủ sở hữu nên không đề cập.

Đối với giấy phép lái xe tạm giữ của bị cáo do bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung nên trả lại cho bị cáo.

Quan điểm bào chữa của luật sự: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xem xét cho bị cáo được hưởng án treo

Bị cáo, Luật sư không tranh luận gì với nội dung của bản luận tội, bị cáo thừa nhận việc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và trình bày lời nói sau cùng: xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

2 Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà.

Hội đồng xét xử kết luận: khoảng 16 giờ 45 phút ngày 12/11/2024, tại khu vực vòng xuyến Cột đồng hồ, có báo hiệu đi theo vòng xuyến, vạch sơn gờ giảm tốc ở Km 287+500 Quốc lộ A, đoạn đường thuộc phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Đình H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu FOTTON, biển số 89H-014.60 trong khi chuyển hướng sang bên phải, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ và giữ khoảng cách an toàn theo quy định, nên đã va chạm vào phía sau xe máy nhãn hiệu Halim, biển số 14AL-013.59, do cháu Phạm Minh D điều khiển, phía sau chở cháu Nguyễn Hải A đi phía trước cùng chiều. Hậu quả: cháu Hải A bị tử vong; cháu D bị thương tích, tổn hại 46% sức khỏe; xe gắn máy bị hư hỏng, thiệt hại 1.760.000 đồng.

3 Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, an toàn về giao thông đường bộ, bị cáo không tuân thủ các quy định về điều khiển giao thông đường bộ, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác. Bị cáo khi cho xe chuyển hướng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ và giữ khoảng cách an toàn theo quy định, đã vi phạm khoản 1 Điều 12; khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 1, 2, 3, 5 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019, của Bộ G. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

4 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

5 Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra cũng xét, bị cáo được người bị hại và đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

6 Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

7 Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tai nạn giao thông xảy ra ngoài ý muốn của bị cáo, sau tai nạn bị cáo đã bồi thường cho bị hại và được gia đình, đại diện các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Do vậy, xét thấy bị cáo có thể tự cải tạo mà không cần buộc cách ly khỏi xã hội, vẫn có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

8 Về hình phạt bổ sung: xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên không xét.

9 Về phần bồi thường dân sự: bị cáo đã bồi thường cho các bị hại, gia đình các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không xét.

10 Về vật chứng:

  • - Chiếc xe ô tô đầu kéo biển số 89H-014.60 và xe máy biển số 14AL-013.59, Cơ quan Điều tra Công an thành phố M đã trả lại cho chủ sở hữu và người quản lý hợp pháp nên không xét.
  • - Đối với 01 giấy phép lái xe hạng FC của bị cáo Nguyễn Đình H, do bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung nên trả lại cho bị cáo.

12 Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

11 Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H: 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo: 01 giấy phép lái xe ô tô số: [...] hạng FC mang tên Nguyễn Đình H (Tòa án có trách nhiệm trả lại cho bị cáo).

  • Về các biện pháp tư pháp: áp dụng Điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 10/LCCT-TA ngày 10/3/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 13/QĐ-TA ngày 10/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái đối với bị cáo

  • Về án phí: áp dụng: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  • Về quyền kháng cáo: áp dụng: khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - phòng PC06 CA tỉnh Quảng ninh
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - Cơ quan điều tra cùng cấp;
  • - Bị cáo, bị hại, Luật sư;
  • - Đại diện HP của bị hại, người CQLNVLQ
  • - Chi cục THADS thành phố Móng Cái;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Hòa: 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger