|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 23/2025/HS-ST
Ngày 27 tháng 02 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Phan Thùy Trang và ông Nguyễn Văn Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11A/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Mai Hữu T, sinh ngày 15/9/1998; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, ấp C, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Thanh C, sinh năm 1971 (đã chết) và bà Trương Thị H, sinh năm 1975; vợ Nguyễn Thị Ngọc D; có 02 người con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023; tiền sự: không; tiền án: Ngày 11/11/2021 bị Tòa án huyện C xử phạt 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 15/5/2023, chấp hành xong; chưa xóa án tích; bị bắt tạm giam từ ngày 22/8/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Ông Phạm Minh T1, sinh năm 2004, nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; (có mặt).
- Ông Đỗ Thành T2, sinh năm 2006, nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (vắng mặt).
- Ông Đặng Văn P, sinh năm 2004, nơi cư trú: Số A, ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Bà Lâm Thị Mỹ T3, sinh năm 1989, nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Q, sinh năm 1978, nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh An Giang;(có mặt).
- Ông Đỗ Anh T4, sinh năm 168, nơi cư trú: ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; (có mặt).
Người làm chứng:
- Bà Phan Thị Cẩm T5, sinh năm 2004; (có mặt).
- Ông (bà) Trương Văn H1, sinh năm 1947; Nguyễn Thị Thanh C1, sinh năm 1993; Lê Văn T6, sinh năm 1993; Phạm Văn Â, sinh năm 2006; Phạm Thị N, sinh năm 2008; Trần Thị Gia H2, sinh năm 2007; Phùng Thanh T7, sinh năm 1986; Trịnh Trung T8, sinh năm 1997 và Đặng Văn T9, sinh năm 1993; (đều vắng mặt phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng năm 2003, Mai hữu T quen biết Phạm Minh T1 và kết bạn mạng xã hội Zalo với tên tài khoản “Dumy Huy”, biết T1 có sở hữu xe mô tô biển số 67D1 – 559.77 nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tôt của T1 nên khoảng 18 giờ 15 phút ngày 26/12/2023, T nói dối sinh nhật con của T, mời T1 đến quán “Phố nướng”, đường T, khóm C, phường C, thành phố C, dự sinh nhật, T1 đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 67D1 559.77 chở Phan Thị Cẩm T5 (bạn gái của T1) đến quán, ngồi chung với T và một người nam tên D1 bạn của T (không rõ lai lịch). Đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, Thọ N1 T1 lấy xe mô tô của T1 chở T đi mua bánh kem, T1 đồng ý và giao xe mô tô cho T điều khiển chở T1. Sáu đó, T chở T1 đến quán lẩu dê “Ninh Bình" tại tổ F, khóm C, phường C, thành phố C để mua tiết canh. Tại đây, T nói dối mượn xe mô tô của T1 đi đón bạn ở Đ - Công an thành phố C đến dự tiệc chung, T1 tin lời và giao xe cho T. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, T điện thoại cho T1 nói dối xe bị bắt do vi phạm nồng độ cồn và xe không có giấy tờ nên kêu T1 để lấy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô ở quán lẩu dê để T đến lấy, nhằm mục đích lấy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô của T1 để dể bán và bán được giá cao nhưng T1 không đồng ý. Nhận thấy, không lấy được giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nên T tắt máy điện thoại, điều khiển xe mô tô đến thành phố Hồ Chí Minh bán cho người đàn ông (không rõ lai lịch) được 3.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 27/12/2023, không thấy T quay lại trả xe, không liên lạc được với T nên T1 đến Công an phường C, thành phố C trình báo;
Ngoài ra, quá trình điều tra xác minh, T còn thực hiện nhiều vụ chiếm đoạt tài sản trên địa bàn C, tỉnh An Giang và huyện N, thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể như sau:
Vụ 1: Khoảng đầu tháng 4 năm 2020, T đến Bệnh viện Đ1 tại thành phố C, thuộc tổ B, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang làm công việc cho thuê bàn ghế ở bệnh viện nên T quen biết vơi Lâm Thị Mỹ T3 đang nuôi con bệnh tại bệnh viện. Đến khoảng 08 giờ nagỳ 30/7/2020, do điện thoại di động hết pin nên T3 đưa điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A52 nhờ Thọ sạc pin dùm, T đồng ý mang điện thoại xuống căn tin bệnh viện. Khi sạc pin xong, T cầm điện thoại của T3 mang đến của hàng điện thoại ở chợ C2 (không nhớ tên cửa hàng) bán được 6.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân hết và bỏ trốn đến thành phố Hồ Chí Minh;
Vụ 2: Ngày 16/6/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 69H1 – 473.64 (xe mô tô Thọ chiếm đoạt của Bùi Thanh S vào ngày 06/6/2024 tại khách sạn S1, quận G, thành phố Hồ Chí Minh) về huyện C, tỉnh An Giang, để thăm gia đình. Khi đến thành phố L, tỉnh An Giang, T làm quen được Đỗ Thành T2 và Phạm Văn  đang điều khiển xe mô tô biển số 66VA- 116.20 trên đường đến huyện T, tỉnh An Giang để tham quan du lịch. Lúc này, T thấy xe củacTâm còn mới nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của T2. T đi theo T2 và  đếnTri Tôn rồi mời T2,  đến thành phố C chơi. Khi đến trước nhà số G, đường C, thuộc tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, T nói dối đây là nhà của T nhưng T quên mang theo chìa khóa nhà, nên kêu T2 ngồi đợi để T điều khiển xe mô tô biển số 67H1- 473.64 chở  đi lấy chìa khóa nhà, T chở ân đến cầu C thuộc xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang, T kêu  đến ngôi nhà có đèn sáng lấy chìa khóa và nói dối là điện thoại hết pin không sử dụng được nên mượn điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của  sử dụng,  đồng ý đưa điện thoại cho T. Sau khi được  đưa điện thoại thì T điều khiển xe chạy đến nơi T2 đang đợi, T nói dối với T2 là xe của T sắp hết xăng nên mượn xe của T2 để đi rước  và T để xe mô tô biển số 67H1 473.20 cho T2. Sau đó, T điều khiển xe chạy đến huyện G, tỉnh Kiên Giang thì bị Cảnh sát giao thông, Công an huyện G bắt, tạm giữ xe mô tô do không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Riêng, điện thoại di động T chiếm đoạt được của Â, T mang bán cho cửa hàng điện thoại di động ở thành phố Hồ Chí Minh (không rõ tên của hàng), được 3.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân hết;
Vụ 3: Thông qua mạng xã hội Facebook, Mai Hữu T quen biết Đặng Văn Phát. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 19/8/2024, sau khi T và P đi tham quan du lịch ở thành phố V về lại thành phố Hồ Chí Minh, thì thuê phòng số D, tại khách sạn D2, đường L, ấp B, xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh (T sử dụng căn cước tên Nguyễn Quốc H3, sinh ngày 12/01/1995, nơi thường trú ấp C, xã T, huyện C, tỉnh An Giang) để ngủ qua đêm. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 20/8/2024, T thức giấc và thấy P đang ngủ, trên đầu giường của P có điện thoại di đông nhãn hiệu Iphone 13 Promax, nên T lấy điện thoại của P cất giấu vào tui quần, sau đó tẩu thoát khỏi khách sạn bằng xe mô tô biển số 68E1- 448.89 của T. Sau khi, phát hiện bị mất trộm, anh P1 đến Công an xã P, huyện N trình báo. Đến chiều cùng ngày, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N mời làm việc, qua làm viêịc, T thừa nhận hành vi lấy trộm điện thoại của anh P và giao nộp điện thoại.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 212/KL-ĐG ngày 18/8/2020; số 33/KL-ĐG ngày 12/01/2024; số 1550/KL-ĐG ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá thành phố C và số 104/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá huyện N, thành phố Hồ Chí Minh, ghi nhận:
- - 01 điện thoại di đông nhãn hiệu Oppo A52, màu đen, trị giá 4.000.000 đồng (tài sản của bị hại Lâm Thị Mỹ T3);
- - 01 máy mô tô 67D1-559.77, nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ ghi, số loại Future, trị giá 18.000.00 đồng (tài sản của bị hại Phạm Minh T1);
- - 01 máy mô tô 666VA-116.20, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen bạc, loại Sirius, trị giá 18.000.000 đồng (tài sản của bị hại Đỗ Thành T2);
- - 01 điện thoại di đông nhãn hiệu Iphone 13 ProMax, màu xanh dương, trị giá 14.900.000 đồng (tài sản của bị hại Đặng Văn P);
Kết luận giám định số 659/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K, Công an tỉnh A, ghi nhận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 01 điện thoại di động nhàn hiệu Samsung (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra, công an thành phố C gửi giám định, chi tiết thể hiện trong 01 đĩa DVD dữ liệu kèm theo. Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD nahx hiệu RISHENG, có tổng dung lượng 3,92GB.
Các ngày 02/7/2024; 20/8/2024; 22/8/2024 và ngày 04/9/2024, Mai Hữu T bị khởi tố để điều tra. Ngày 13/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, thành phố Hồ Chí Minh chuyển nhập vụ án để điều tra, xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Mai Hữu T khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Cáo trạng số: 08/CT-VKSCĐ ngày 03/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Mai Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản”; “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 173; khoản 1 điều 174 và khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Mai Hữu T khai nhận để có tiền tiêu xài và trả nợ, nên đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng vừa được Kiểm sát viên công bố tại phiên tòa; đồng ý bồi thường như yêu cầu của bị hại T1;
Bị hại ông Phạm Minh T1 yêu cầu bị cáo bồi thường xe mô tô giá trị như đã định giá là 18.000.000 đồng; đồng thời yêu cầu Tòa án xử bị cáo theo quy định pháp luật;
Bà Phan Thị Q trình bày: Bà là mẹ của Phạm Minh T1, xe mô tô là do bà mua cho T1. Do đó, T1 toàn quyền quyết định, bà không có ý kiến;
Ông Đỗ Tuấn A trình bày: xe của ông cũng bị T lừa dối chiếm đoạt. Hiện tại, Công an C đã chuyển cho Công an huyện G, thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết, nên ông không có ý kiến trong vụ án này.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Mai Hữu T về các tội “Trộm cắp tài sản”; “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mai Hữu T:
+ Từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
+ Từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 05 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam.
Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy dụng cụ móc sim bằng kim loại; trả lại cho bị cáo xe mô tô và điện thoại. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo bồi thường cho Phạm Minh T1 số tiền 18.000.000 đồng;
Buộc bị cáo chịu án phí; có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Các vấn đề khác: Căn cước công dân là bản photo tên Nguyễn Quốc H3 do bị cáo lên mạng xã hội làm giả; người làm giả chỉ đưa bản photo không đưa bản chính, nên Công an chưa có căn cứ xử lý; nên không xem xét;
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Sự vắng mặt của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định tiến hành xét xử.
Về nội dung:
[3] Về hành vi phạm tội: Đối chiếu lời khai của bị cáo T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở xác định:
Bị cáo T đã dùng thủ đoạn gian dối để bị hại T1 đưa xe mô tô biển số 67D1 – 559.77 nhằm mục đích chiếm đoạt, sau khi chiếm đoạt được xe mô tô của T1, bị cáo đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, theo định giá là 18.000.000 đồng; tương tự ngày 11/6/2024, sau khi làm quen với T2 và Â, bị cáo T thấy xe của T2 còn mới, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt: bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để T2 đưa xe mô tô và Â đưa điện thoại 11 Promax cho bị cáo. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo điều khiển xe của T2 biển số 66VA-116.20 chạy đến huyện G, tỉnh Kiên Giang thì bị cảnh sát giao thống bắt giữ do không có giấy chứng nhận đăng ký xe, riêng điện thoại di động bán lấy tiền tiêu xài; theo định giá xe mô tô biển số 66VA-116.20 trị giá 18.000.000 đồng; Nên, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS;
Vào tháng 4 năm 2024, bị cáo cho thuê ghế tại bệnh viện Đ1 tại thành phố C; Lâm Thị Mỹ T3 đang nuôi con tại đây, nên quen biết nhau. Do điện thoại hết pin, nên T3 nhờ bị cáo sạt dùm, bị cáo đồng ý. Tuy nhiên, sau khi sạt đầy pin, bị cáo không trả lại, mà nảy sinh ý định chiếm đoạt mang đến của hàng điện thoại ở chợ C2 (không nhớ tên cửa hàng) bán lấy tiền tiêu xài và bỏ trốn lên thành phố Hồ Chí Minh, kết luận định giá điện thoại Oppo A52 trị giá 4.000.000 đồng, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS;
Thông qua mạng xã hội Facebook, bị cáo T quen Đặng Văn P. Ngày 19/8/2024, bị cáo T và P đi tham quan du lịch thành phố V, sau đó về thuê phòng tại khách sạn D3, thuộc lê Văn L, ấp B, xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh (bị cáo sử dụng bản photo căn cước tên Nguyễn Quốc H3 để đăng ký lưu trú), đến khoảng 03 giờ 30 sáng ngày 20/8/2024, bị cáo thức giấc và thấy P đang ngủ, trên đầu giường để điện thoại 13 promax, nên bị cáo lấy trộm cất giấu vào túi quần, sau đó tẩu thoát khởi khách sạn bằng xe mô tô. Sau khi phát hiện, P đến Công an huyện N, thành phố Hồ chí Minh trình báo, đến chiều cùng ngày tại Công an huyện N, bị cáo T thừa nhận hành vi lấy trộm, kết luận định giá điện thoại Iphone 13 promax trị giá 14.900.000 đồng; hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS;
Từ đó, cho thấy Cáo trạng số 08/CT-VKSCĐ ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Mai Hữu T ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất vụ án: Xét thấy, quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của mỗi công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Bị cáo đang ở tuổi lao động, đáng lẽ, phải cố gắng lao động để tạo lập tài sản chính đáng cho bản thân nhưng bị cáo lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động vất vã mới có được, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân không tốt đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Nay lại tiếp tục và nhiều lần thực hiện tội phạm, nên thuộc trường hợp tái phạm và phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g, h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (BLHS). Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục và nhiều lần phạm tội chiếm đoạt tài sản, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết tái phạm và phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g, điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét cho bị cáo thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Xét thấy, vật chứng đã thu giữ trong vụ án không liên quan đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, xét trả lại cho bị cáo xe mô tô và điện thoại. Tuy nhiên, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Tịch thu tiêu hủy dụng cụ móc sim bằng kim loại theo quy định Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
[8] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo bồi thường cho ông Phạm Minh T1 số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng;
[9] Về án phí: Bị cáo Mai Hữu T phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173; khoản 1 điều 174 và điểm a khoản 1 Điều 175; điềm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g và điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Mai Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Mai Hữu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành chung cho cả ba tội là 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày 22 tháng 8 năm 2024;
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dụng cụ móc sim bằng kim loại.
Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với: 01 (một) xe mô tô biển số 68E1-448.89 nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn: Đen, số khung: RLCUE3710LY054752, số máy: E32VE115704, đã qua sử dụng (không gương chiếu hậu, không cần đạp); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20, màu đen, số Imei: 355039101492139 đã qua sử dụng, bị bể màn hình để đảm bảo thi hành án.
(Đặc điểm vật chứng được mô trả theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Mai Hữu T bồi thường cho Phạm Minh T1 số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng;
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Mai Hữu T chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự và 900.000 (chín trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, bị hại Phạm Minh T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Văn Đức |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
