|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HS-ST
Ngày 24/03/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Hoa
- Ông Nguyễn Chung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trương Ngọc Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2025/HSST ngày 25 tháng 2 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 11/3/2025 đối với bị cáo:
Đặng Đình T, sinh ngày 16/06/1987 tại Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình C (chết) và bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1959); tiền sự: Không; tiền án:
- + Bản án số 20/2022/HSST ngày 26/4/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An xử phạt 9 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong hình phạt ngày 10/11/2022).
- + Bản án số 62/2024/HSST ngày 18/3/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 1 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong hình phạt ngày 10/10/2024).
- + Nhân thân: Ngày 12/8/2019 bị Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt số tiền 1.500.000đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N từ ngày 15/12/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Nguyễn L, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
* Người làm chứng:
- - Ông Trần Văn D, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- - Ông Phan Thanh H, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Đình T đã tái phạm chưa được xóa án tích. Khoảng 16 giờ ngày 13/12/2024 T đi xe khách từ huyện B, tỉnh Lâm Đồng xuống thành phố N rồi đi ra thị xã N, tỉnh Khánh Hòa tìm bạn tên L1 (không xác định được nhân thân, lai lịch). Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/12/2024 trong lúc đi bộ trên đường N thuộc Tổ dân phố T, phường N, thị xã N, T nhìn thấy xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 79H1 – 383.21 của ông Nguyễn L đang dựng trong sân nhà có gắn chìa khóa nhưng không có người trông coi thì nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Thực hiện ý định này, T lén đi vào trong sân, quay đầu xe nổ máy khởi động, điều khiển xe tẩu thoát theo hướng quốc lộ A. Lúc này ông L phía sau nhà nghe tiếng nổ máy liền chạy ra trước xem thấy xe mô tô bị mất nên cùng với ông Trần Văn D và công an phường N truy hô đuổi theo đến khu vực quán C1 đường L, phường N, thị xã N chặn giữ được T cùng xe mô tô trộm cắp, công an phường N đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 130/KL-ĐGTS ngày 16/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 79H1 383.21 trị giá 7.000.000đồng.
Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKS-HS ngày 24 tháng 2 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Đặng Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Đặng Đình T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 79H1 383.21 đã trả lại chủ sở hữu nên không xem xét giải quyết; tịch thu, tiêu hủy: 1 áo khoác dài tay màu đen, 1 quần dài màu xẫm, 1 áo thun ngắn tay màu xanh đen; tuyên về quyền kháng cáo, án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Đặng Đình T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về để làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Người làm chứng ông Trần Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
[3] Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Đặng Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Để có phương tiện sử dụng, vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 15/12/2024 tại nhà ông Nguyễn L thuộc Tổ dân phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa bị cáo T có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 79H1 – 383.21 của ông Nguyễn L có giá trị là 7.000.000đồng, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Cáo trạng số 24/CT-VKS-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ đúng người, đúng tội.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015: Ngày 26/4/2022 bị cáo Đặng Đình T bị Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/11/2022. Ngày 18/3/2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/10/2024. Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý là trường hợp “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự 2015 và tình tiết “tái phạm nguy hiểm” này được quy định là tình tiết định khung hình phạt
quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm nhân dân thị xã N truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người bị hại được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, tuổi đời còn rất trẻ nhưng không lo tu dưỡng rèn luyện đạo đức, làm ăn chân chính, lương thiện mà lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện tính tham lam, tư lợi và coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 79H1 - 383.21 đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét, giải quyết.
- + Đối với 01 áo khoác dài tay màu đen, 1 quần dài màu xẫm, 1 áo thun ngắn tay màu xanh đen là tài sản của bị cáo, bị cáo không yêu cầu nhận lại tài sản trên và không có giá trị nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 1 áo khoác dài tay màu đen, 1 một quần dài màu xẫm, 1 áo thun ngắn tay màu xanh đen.
(Vật chứng được giao nhận theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 3 năm 2025 giữa Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hoà và Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh K).
[7] Về án phí: Bị cáo Đặng Đình T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Đình T 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen, 1 quần dài màu xẫm, 1 áo thun ngắn tay màu xanh đen.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
(Vật chứng được giao nhận theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 3 năm 2025 giữa Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hoà và Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh K).
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ĐẶNG ĐÌNH T
