TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST Ngày 21-3-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Triều Vũ Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Phượng
Ông Thạch Thanh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Long Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử – Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2025/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Trúc M, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Ấp A, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Bùi Quốc T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2024 nguyên đơn bà Trần Thị Trúc M trình bày:
Bà Trần Thị Trúc M và ông Bùi Quốc T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận kết hôn số 08, ngày 23/01/2019. Sau khi kết hôn bà M và ông T chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì đến năm 2024 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Trong thời gian chung sống bà M và ông T có 01 (Một) người con chung tên là Bùi Ngọc Khánh V, sinh ngày 13/9/2020. Về tài sản chung và nợ chung, bà M và ông T không có.
Tại phiên tòa, bà Trần Thị Trúc M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng giải quyết: Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Bùi Quốc T. Về con chung: Yêu cầu được nuôi người con chung tên là Bùi Ngọc Khánh V, sinh ngày 13/9/2020, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Bùi Quốc T: Kể từ khi thụ lý đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T, nhưng ông không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như tham dự theo các giấy triệu tập của Tòa. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Bùi Quốc T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó HĐXX căn cứ vào khoản 2, Điều 227, Điều 228, khoản 3 Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông T sống chung với nhau. Đến năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Xét thấy, việc chung sống của ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là vợ chồng. Tòa án đã triệu tập ông T đến tham dự phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn, nhưng ông T vẫn vắng mặt. Tại biên bản xác minh 10/02/2025, đại diện ban nhân dân Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng cho biết về tình trạng mâu thuẫn hôn nhân giữa ông T và bà M thì địa phương không rõ, do khi xảy ra mâu thuẫn thì các bên không trình báo. Tại phiên tòa, bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Nhận thấy, hai bên đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể tiếp tục duy trì đời sống vợ chồng với nhau. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận cho bà M được ly hôn với ông T.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Trần Thị Trúc M và ông Bùi Quốc T có một (01) người con chung tên là Bùi Ngọc Khánh V, sinh ngày 13/9/2020.
Xét thấy: Kể từ khi ly thân đến nay, cháu Vy đều do bà M nuôi dưỡng. Do đó, việc thay đổi điều kiện, hoàn cảnh sống sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về mọi mặt của cháu. Vì vậy, nhằm đảm bảo cho sự phát triển và ổn định của cháu, HĐXX quyết định giao cháu Vy cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên.
Về cấp dưỡng: Bà Trần Thị Trúc M không yêu cầu cầu ông Bùi Quốc T cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Bà Trần Thị Trúc M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Bà Trần Thị Trúc M xác định không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Trần Thị Trúc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Ông Bùi Quốc T không phải chịu án phí.
[7] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, Điều 227; Điều 228, Điều 235; Điều 271, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Trúc M được ly hôn với ông Bùi Quốc T.
- Về con chung: Giao cháu Bùi Ngọc Khánh V, sinh ngày 13/9/2020 cho bà Trần Thị Trúc M tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông Bùi Quốc T không cấp dưỡng nuôi con.
- Dành quyền nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Bùi Quốc T mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Bà Trần Thị Trúc M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Bà Trần Thị Trúc M xác định không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Trúc M có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà M đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006830 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Bà M đã nộp xong án phí. Ông Bùi Quốc T không phải chịu án phí.
6/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7/ Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Triều Vũ Hà |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Trần Thị Trúc M khởi kiện ông Bùi Quốc T về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con
