Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 20-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Hải Toản.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Kim Thủy; ông Lê Phi Long.

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Luyện - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Văn Q, tên gọi khác: không; sinh ngày 19/5/2003, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKNKTT: khu E, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: thôn B, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh và căn hộ B chung cư D, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S và bà Phạm Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đinh Tiến T, tên gọi khác: không; sinh ngày 09/5/1995, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: số E phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: số G ngõ A N, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Tiến K và bà Triệu Thúy P; có vợ là Đỗ Thị Thanh T1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Duy A, tên gọi khác: không; sinh ngày 28/6/2000, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKNKTT: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; chỗ ở: số F khu H, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị T2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Phạm Bá T3, tên gọi khác: không; sinh ngày 15/8/1988, tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: tổ A, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Bá H2 và bà Nguyễn Thị K1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Ngô Thị Minh P1, tên gọi khác: không; sinh ngày 29/11/2003, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị N; chồng, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Nguyễn Thị Hải Y, tên gọi khác: không; sinh ngày 19/9/1995, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: tổ D, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K2 và bà Phạm Thị N1; có chồng là: Phạm Xuân H3 (đã chết) và có 01 con; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

7. Họ và tên: Phan Công M, tên gọi khác: không; sinh ngày 26/02/1986, tại tỉnh Đồng Nai; nơi ĐKNKTT: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: số A, H, khu đô thị V, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Công C và bà Bùi Thị N2; có vợ là Thái Thị Mỹ N3 (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 05/7/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

8. Họ và tên: Nguyễn H4, tên gọi khác: không; sinh ngày 22/10/1992, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKNKTT: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: phòng B, chung cư G, tổ I, khu F, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Vũ Thị N4; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

9. Họ và tên: Phạm Minh M1, tên gọi khác: không; sinh ngày 20/3/1991, tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; nơi ĐKNKTT: số A đường Y, phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; nơi ở: phòng B, chung cư G, tổ I, khu F, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Minh C1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H5; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn Q: Luật sư Lê Sỹ D, Văn phòng L1, đoàn Luật sư tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

- Những người làm chứng: vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 10/4/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, Đội kiểm soát phòng chống ma túy Cục Hải quan tỉnh Q và Công an phường Y, thành phố H kiểm tra căn hộ số 2808A chung cư GREEN DIAMOND thuộc Tổ I, Khu F, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh của Nguyễn H4 thuê để ở phát hiện thấy bên trong có 7 người, gồm: Nguyễn H4, Phạm Bá T3, Hoàng Văn Q, Đinh Tiến T, Phạm Minh M1, Nguyễn Thị Hải Y, Ngô Thị Minh P1 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng:

  • - Thu trên mặt bàn gỗ cạnh nơi để kệ ti vi: 01 bát sứ trắng trong bát có 01 thìa bằng kim loại và chứa chất lỏng màu vàng có thể tích 152ml, kết quả giám định tìm thấy chất MDMA, Ketamine;
  • - Thu dưới chân bàn 01 tờ tiền loại 5.000 đồng được gấp lại, bên trong chứa chất bột màu xám, kết quả giám định là ma túy MDMA có khối lượng 0,378 gam;
  • - Thu dưới nền nhà cạnh đầu giường ngủ:
    • + 02 túi nylon đều chứa chất tinh thể màu trắng, kết quả giám định là ma tuý Ketamine có tổng khối lượng 48,333 gam (01 túi khối lượng 45,297 gam; 01 túi khối lượng 3,036 gam).
    • + 01 túi nylon chứa 02 viên nén mầu xám, kết quả giám định là ma túy MDMA có khối lượng 0,844 gam;
  • - Thu trên mặt bàn máy tính:
    • + 01 đĩa sứ trắng chứa chất bột màu trắng, kết quả giám định là ma tuý Ketamine có khối lượng 0,477 gam; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn H4 và 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền loại 10.000 đồng đều dính chất tinh thể màu trắng, kết quả giám định là ma túy loại Ketamine, nhưng không xác định được khối lượng;
    • + 01 hộp giấy bên trong có 02 túi nylon đều chứa chất bột màu trắng đục. Trong đó, 01 túi nặng 4,664 gam, kết quả giám định có hàm lượng MDMA 0,7% (0,03 gam MDMA), Ketamine 0,5% (0,02 gam Ketamine); 01 túi nặng 4,611 gam, kết quả giám định có hàm lượng MDMA 0,6% (0,02 gam MDMA), Ketamine 0,3 % (0,01 gam Ketamine);

Kết quả giám định nước tiểu của những đối tượng trên, xác định: Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn H4 và Phạm Minh M1 tìm thấy chất D1 (là sản phẩm chuyển hóa của Ketamine); trong mẫu nước tiểu của Đinh Tiến T, Phạm Bá T3, Hoàng Văn Q, Nguyễn Thị Hải Y, Ngô Thị Minh P1 và Nguyễn Duy A (bị bắt khẩn cấp ngay 12/4/2024) tìm thấy chất Methamphetamine, MDMA và Dehydronorketamine.

(Bản Kết luận giám định số 505 ngày 16/4/2024, số 520 ngày 17/4/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Q và số 5513 ngày 26/7/2024 của V Bộ C4).

Ngày 11/4/2024, Cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Bá T3, Nguyễn H4, Đinh Tiến T, Hoàng Văn Q, và Ngô Thị Minh P1. Ngày 12/4/2024, Cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Hải Y, Phạm Minh M1 và Nguyễn Duy A. Ngày 05/7/2024, Cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phan Công M.

Hành vi phạm tội của các bị cáo cụ thể như sau:

1. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Đinh Tiến T, Phạm Bá T3, Hoàng Văn Q, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y, Nguyễn H4, Phạm Minh M1, Nguyễn Duy A và Phan Công M; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Đinh Tiến T, Phạm Bá T3, Hoàng Văn Q, Ngô Thị Minh P1 và Nguyễn Thị Hải Y; hành vi mua bán trái phép 50 gam ma túy của Đinh Tiến T và Hoàng Văn Q:

Chiều ngày 01/4/2024, Đinh Tiến T mang theo 50 gam ma túy Ketamine, 04 viên ma túy thuốc lắc và 02 túi ma túy nước vui (theo T khai mua của một người không quen biết ở thành phố Hà Nội qua ứng dụng Telegram) cùng Nguyễn Thị Hải Y (bạn gái của T) đến nơi ở của Phạm Bá T3 (bạn của T) tại căn hộ S chung cư D thuộc phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh chơi.

Tại đây, từ ngày 01/4/2024 đến ngày 04/4/2024, T đã nhiều lần bỏ ma túy mang theo ra tổ chức cho T3, Y, Ngô Thị Minh P1 (chung sống với T3) và Hoàng Văn Q (bạn của T3) sử dụng ma túy. Trong quá trình sử dụng ma túy, Q đã lấy thẻ nhựa, đĩa sứ, ống hút và thìa kim loại có sẵn trong nhà T3 để Q, T và T3 thay nhau nghiền mịn ma túy cho mọi người cùng sử dụng; Y và P1 nhiều lần cầm ma túy mời nhau và mời những người khác cùng sử dụng. Ngoài ra, sau đó còn có Tô Văn N5, Phan Công M, Nguyễn Duy A đều là bạn chung của cả nhóm cùng Vũ Minh P2 (là bạn gái của Duy A) đến nhà T3 chơi. T bỏ ma túy Ketamine ra cùng Q thay nhau đánh mịn ma túy, sau đó cùng nhau sử dụng và mời Duy A, Vũ Minh P2, Tô Văn N5 cùng tham gia sử dụng ma túy. Riêng Phan Công M không tham gia sử dụng ma túy.

Đến đêm ngày 04/4/2024, số lượng ma túy của T đã sắp hết, nên T và Y thống nhất với T3, Q, Ngô Thị Minh P1, N5, Duy A, Vũ Minh P2 cùng nhau đóng góp tiền để mua 50 gam ma túy Ketamine về sử dụng; T sẽ ứng trước số tiền mua ma túy, sau đó Y sẽ có trách nhiệm thu lại tiền của từng người để trả lại cho T; số ma túy mua được, T sẽ là người quản lý để cùng mọi người tổ chức sử dụng. Ngoài ra, Q bảo với T là mua giúp cho Q 50 gam ma túy Ketamine để Q bán lại cho bạn của Q, T đồng ý.

Sau khi thống nhất xong, T liên lạc qua ứng dụng Telegram với đối tượng không quen biết đã bán ma túy cho T từ trước đặt mua 75 gam ma túy Ketamine với giá 53.000.000 đồng và dặn người này chia làm 02 túi, một túi chứa 50 gam và một túi chứa 25 gam và trao đổi địa điểm giao nhận ma túy là gần khu nhà trọ của T thuê ở số G, ngõ A N, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, T đã nói lại cho mọi người là sẽ mua 100 gam ma túy Ketamine (vì bản thân T vẫn giữ trong người 25 gam Ketamin chưa dùng hết) với giá là 65.000.000 đồng, trong đó 50 gam T giao cho Q để bán lại cho bạn với giá 35.000.000 đồng cao hơn so với giá mua T thông báo là 2.500.000 đồng.

Sáng ngày 05/4/2024, Q thuê xe tự lái chở T, T3 và rủ thêm Phan Công M cùng đi Hà Nội. Trên đường đi, T chuyển 40.500.000 đồng và Q chuyển 13.000.000 đồng vào tài khoản số 5580509593 mang tên Nguyễn Bá Huy C3 mở tại Ngân hàng B để trả tiền mua ma túy. Khi đến Hà Nội, người bán ma túy gọi điện báo cho T biết địa điểm cất giấu ma túy ở gần khu nhà trọ của T và hướng dẫn T đến nhận ma túy. Sau khi mua được 75 gam ma túy Ketamine, T đưa cho Q 50 gam mang về thành phố H bán lại cho cho Vũ Tuấn N6 với giá 35.000.000 đồng để N6 sử dụng. Còn lại 25 gam, T đổ trộn cùng với 25 gam ma túy Ketamine mà T còn cất giấu trước đó thành 01 túi 50 gam rồi đem về nhà T3 để mọi người cùng sử dụng. Tuy nhiên, trước khi chuẩn bị sử dụng, thì T, Y và Ngô Thị Minh P1 yêu cầu mỗi người góp 4.200.000 đồng tiền mua ma tuý như theo thỏa thuận ban đầu (bao gồm tiền mua 50 gam ma túy và tiền thuê xe ô tô để đi mua ma túy), thì Duy A, Vũ Minh P2 và N5 không đồng ý nên đã bỏ đi, không tham gia sử dụng ma túy nữa. Còn lại T, Q, T3, Y và Ngô Thị Minh P1 đều cùng nhau thống nhất sẽ cùng nhau đóng góp tiền mua 50 gam ma túy nêu trên sau khi tổ chức sử dụng ma túy trong những ngày tiếp theo.

Đến trưa ngày 08/4/2024, Nguyễn Duy A quay lại nhà T3 xin lỗi mọi người về việc Duy A không tham gia đóng góp tiền mua ma túy. Sau đó, Duy A bỏ ra 02 túi ma túy nước vui mầu đỏ nhãn hiệu Ferarri mời T, T3, Q, Y, P1 cùng sử dụng và T tiếp tục bỏ ma túy Ketamine ra để mọi người cùng sử dụng.

Đến rạng sáng ngày 09/4/2024, trong khi Duy A còn đang ngủ thì T, Y, Q, T3 và P1 tiếp tục thống nhất góp tiền mua thêm 25 gam ma túy Ketamine và 04 viên ma túy thuốc lắc để sử dụng. Sau khi thống nhất xong, T gọi điện qua ứng dụng T4 cho người bán ma túy cho mình đặt mua số ma túy trên với giá 24.000.000 đồng và yêu cầu cho ma tuý vào trong túi xách gửi đến nhà trọ của Ngô Anh D2 (bạn của T) đang ở Hà Nội để D2 chuyển về Quảng Ninh cho T. Sau đó, T chuyển tiền cho người bán ma túy vào tài khoản mang tên Nguyễn Bá Huy C3 nêu trên, rồi gọi điện thoại cho D2 nhờ nhận giúp một túi hàng và gửi xe khách về thành phố H cho T. Do ngủ quên, nên T không đón được xe khách để nhận ma tuý tại thành phố H, khi xe đi tới huyện Đ, T đã gọi điện thoại bảo D2 nhờ bạn của D2 ở Đ (chưa xác định được lai lịch địa chỉ) nhận giúp. Đến sáng ngày 09/4/2024, T đi xe khách đến huyện Đ gặp bạn của D2 lấy số ma tuý trên và Q đi xe khách về nhà Q tại M lấy thêm 04 túi ma túy nước vui, rồi cả hai cùng về H để tiếp tục sử dụng ma túy. Khoảng 21 giờ cùng ngày 09/4/2024, khi T và Q về đến sảnh chung cư nhà T3, T gọi điện thoại bảo T3 đến nhà Phan Công M (là bạn của T3 và T) thuê trọ ở số A, H, khu đô thị V thuộc phường H, thành phố H để tổ chức sử dụng ma túy và gọi điện thoại báo cho M biết T sẽ đến nhà M chơi. T cũng bảo Y xuống sảnh chung cư để T đưa đến nhà M để tiếp tục sử dụng ma túy. Sau đó T, Q, Y đến nhà Phan Công M và được M đưa lên phòng của M ở trên tầng 4. Tại đây, M lấy 01 túi ma túy nước vui mầu đỏ nhãn hiều Ferarri để lên giường mời mọi người sử dụng. Khoảng 22 giờ cùng ngày, T3 và Ngô Thị Minh P1 cũng đến nhà M. Lúc này, Q bóc túi ma túy của M để pha với nước bò húc đun nóng; T đưa cho Q 01 viên ma túy thuốc lắc, Q nghiền viên ma túy thuốc lắc ra rồi pha cùng với túi ma túy nước vui của M trong 01 chiếc ca; Q cầm ca ma túy đi mời mọi người cùng sử dụng. Sau đó, T tiếp tục đưa cho Q 01 gói ma túy Ketamine (được gói bằng tờ tiền) để Q đánh mịn cho mọi người cùng sử dụng.

Đến khoảng 01 giờ ngày 10/4/2024, T3 gọi điện thoại rủ Nguyễn H4 (là bạn chung của cả nhóm) đến nhà M chơi, nhưng H4 đang có bạn ở nhà, nên không sang nhà M được. Do đó, H4 thống nhất với T3 cùng cả nhóm gồm T, Q, Y, Ngô Thị Minh P1 đến nhà H4 ở phòng B chung cư G thuộc tổ I, khu F, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để tổ chức sử dụng ma túy. Khi cả nhóm đến sảnh chung cư G, thì H4 cùng Phạm Minh M1 (bạn của H4) xuống đón đưa lên căn hộ của H4. Tại đây, T lấy một đĩa sứ trong bếp mang ra đổ ma túy Ketamine lên đĩa đưa cho Q, H4 đưa cho Q thẻ căn cước của H4 để Q đánh mịn ma túy rồi cầm đĩa ma túy đi mời mọi người cùng sử dụng. Trong khi mọi người sử dụng ma túy Ketamine thì Q bóc 02 túi ma túy nước vui màu cam có nhãn hiệu CAMELLIA của Q lấy từ nhà ở M mang theo cho vào bát sứ pha với nước 7UP đun nóng và mời mọi người cùng sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy của Q xong, T đưa cho Q 01 viên ma túy thuốc lắc màu xám, Q nghiền viên ma túy thành bột rồi để ở góc bàn. Trong quá trình sử dụng ma túy, M1 nhiều lần cầm ma túy đi mời mọi người cùng sử dụng.

Đến khoảng 05 giờ ngày 10/4/2024, lực lượng chức năng kiểm tra nơi ở của H4, phát hiện T3, T, Q, Y, P1, H4, M1 tổ chức sử dụng ma tuý và thu giữ vật chứng. Trong đó: T5 48,81 gam chất ma túy Ketamine và 1,22 gam chất ma túy MDMA là của Phạm Bá T3, Nguyễn Thị Hải Y, Đinh Tiến T, Hoàng Văn Q và Ngô Thị Minh P1 (cùng nhau góp tiền mua). Ngoài ra còn thu 0,01 gam Ketamine và 0,05 gam ma túy MDMA và 125 ml có thành phần ma túy MDMA và Ketamine là của Hoàng Văn Q và Ngô Thị Minh P1 (được người Đài Loan cho), cất giấu nhằm mục đích để sử dụng.

Riêng đối với chất lỏng trong bát sứ thu giữ trên mặt bàn gỗ nơi để ti vi trong phòng của H4 là của Q, Q pha từ 02 túi ma túy nước vui với nước 7UP. Theo kết quả giám định, thì trong 01 túi ma túy nước vui có 0,02 gam chất ma túy MDMA và 0,01 gam chất ma túy Ketamine. Số ma túy này, Q đã mời mọi người sử dụng gần hết, nên lượng ma túy còn lại do chưa sử dụng hết bị thu giữ là rất nhỏ, do đó không xác định khối lượng ma túy trong chất lỏng bị thu giữ (152ml).

2. Hành vi mua bán trái phép 50 gam chất ma túy Ketamine và 10 túi ma túy của Hoàng Văn Q và Nguyễn Duy A:

Năm 2023, Ngô Thị Minh P1 có quan hệ tình cảm một người đàn ông người Đài Loan không rõ lai lịch địa chỉ cụ thể, thông qua P1 người Đài Loan quen biết Hoàng Văn Q. Ngày 14/01/2024, người Đài Loan nhờ Q mua 50 gam ma túy Ketamine và 10 túi ma túy nước vui, Q đồng ý và sẽ báo lại sau khi tìm được nguồn mua. Sau đó, Q liên lạc với Nguyễn Duy A để tìm người bán ma túy, Duy A liên hệ với được đối tượng tên là C2 (không rõ nhân thân) thỏa thuận mua được số lượng ma túy như trên với giá 52.500.000 đồng. Duy A báo lại cho Q giá 67.000.000 đồng và Q báo lại cho người Đài Loan giá 72.000.000 đồng và người này đồng ý mua.

Sau đó, người Đài Loan đưa cho Q 20.000NDT, Q đổi được 72.000.000 đồng rồi chuyển cho Duy A 67.000.000 đồng như thỏa thuận, Q lãi 5.000.000 đồng. Duy A cũng chuyển tiền như thỏa thuận cho đối tượng C2 thông qua tài khoản 311199456789 mang tên Đàm D3. Tuy nhiên đến đêm ngày 16/01/2024, Q không thấy Duy A chuyển ma túy. Do sợ thất hẹn với người Đài Loan, nên Q đã yêu cầu Duy A cho số điện thoại của người bán ma túy và tự mình đi taxi lên Hà Nội để lấy ma túy. Sau khi liên lạc và theo chỉ dẫn của đối tượng C2, Q đã lấy được ma túy để giao cho người Đài Loan. Người Đài Loan chỉ nhận 50 gam ma túy Ketamine, còn 10 túi ma túy nước vui người này bảo Q giữ lại để Q, P1 và người này sử dụng dần. Ngoài ra, Q nói với P1 khi Q đi mua ma túy bị lỗ 1.000.000 đồng tiền taxi, nên P1 đã đồng ý bù cho Q 500.000 đồng. Sau đó nhóm Q, P1 và người Đài Loan đã sử dụng hết 06 túi ma túy nước vui, còn 04 túi thì người Đài Loan cho Q. Đến Ngày 09/4/2024, Q về nhà tại M đem 04 túi ma túy này vào thành phố H góp để cùng sử dụng ma túy, sau đó bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ như nội dung trên.

Bản Cáo trạng số 498/CT-VKSQN-P1 ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Q về các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khỏa 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Đinh Tiến T về các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khỏa 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Duy A về các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khỏa 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y về các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khỏa 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo: Phan Công M, Nguyễn H4, Phạm Minh M1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khỏa 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Văn Q, Đinh Tiến T, Nguyễn Duy A, Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y, Phan Công M, Nguyễn H4, Phạm Minh M1 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu và thừa nhận bị truy tố và xét xử theo như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh là đúng người, đúng tội, các bị cáo không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đinh Tiến T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Duy A phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Phan Công M, Nguyễn H4, Phạm Minh M1 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 3 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q từ 07 đến 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 15 đến 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 07 đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả ba tội từ 29 đến 30 năm tù.

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm p khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Tiến T từ 06 đến 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 07 đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 07 đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả ba tội từ 20 đến 23 năm tù.

- Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A từ 07 đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 06 đến 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội từ 13 đến 15 năm tù.

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

  • + Xử phạt bị cáo Phạm Bá T3 từ 05 đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 07 đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội từ 12 đến 14 năm tù.
  • + Xử phạt bị cáo Ngô Thị Minh P1 từ 05 đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội từ 10 năm 06 tháng đến 12 năm tù.
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hải Y từ 05 đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội từ 10 năm 06 tháng đến 12 năm tù.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

  • + Xử phạt bị cáo Phan Công M từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn H4 từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.
  • + Xử phạt bị cáo Phạm Minh M1 từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật và không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn Q phát biểu quan điểm bào chữa: về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Luật sư không có ý kiến gì. Đề nghị xem xét vai trò của bị cáo trong tội tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo có vai trò là không đáng kể. Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo do nể nang nên mua giúp người đàn ông Trung Quốc chứ không có mục đích gì. Đề nghị xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Lời nói sau cùng các bị cáo đều nhận thức được hành vi là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo; Luật sư bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Văn Q, Đinh Tiến T, Nguyễn Duy A, Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y, Phan Công M, Nguyễn H4, Phạm Minh M1 đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp nhau. Căn cứ vào các Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

  • - Từ ngày 01/4/2024 đến ngày 08/4/2024, tại căn hộ chung cư của Phạm Bá T3 ở phòng B chung cư D thuộc phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh:
    • + Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y, Đinh Tiến T và Hoàng Văn Q đã tổ chức cho nhau và tổ chức cho Nguyễn Duy A, Vũ Minh P2, Tô Văn N5 sử dụng trái phép chất ma túy loại Ketamine;
    • + Phạm Bá T3, Nguyễn Duy A, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y, Đinh Tiến T và Hoàng Văn Q tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy loại Ketamine và MDMA.
  • - Ngày 09/4/2024, tại nơi ở của Phan Công M ở số A, H, khu đô thị V thuộc phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Phan Công M đã tổ chức cho Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y, Đinh Tiến T và Hoàng Văn Q sử dụng trái phép chất ma túy loại nước vui (Ketamine và MDMA). Ngay sau đó cũng tại nhà Phan Công M, Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y, Đinh Tiến T và Hoàng Văn Q đã tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy MDMA và ma túy Ketamine.
  • - Ngày 10/4/2024, tại căn hộ của Nguyễn H4 tại số B chung cư G thuộc tổ I, khu F, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh:
    • + Nguyễn H4, Phạm Minh M1, Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y, Đinh Tiến T, Hoàng Văn Q đã tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy loại Ketamine và MDMA;
    • + Phạm Bá T3, Nguyễn Thị Hải Y, Đinh Tiến T có hành vi tàng trữ trái phép 48,81 gam chất ma túy Ketamine và 1,22 gam chất ma túy MDMA; Hoàng Văn Q, Ngô Thị Minh P1 có hành vi tàng trữ trái phép 48,813 gam chất ma túy Ketamine và 1,25 gam chất ma túy MDMA để sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ vật chứng.
  • - Ngày 16/01/2024, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Duy A có hành vi bán trái phép cho Hoàng Văn Q 50 gam ma túy Ketamine và 10 túi ma túy có thành phần MDMA và Ketamine với giá 67.000.000 đồng, sau đó Q bán lại cho một người khác với giá 72.000.000 đồng; ngày 05/4/2024, tại phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đinh Tiến T và Hoàng Văn Q có hành vi bán trái phép 50 gam ma túy Ketamine cho Vũ Tuấn N6 với giá 35.000.000 đồng.

Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại nhiều mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, là nguồn phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức được việc mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì ý thức chấp hành pháp luật kém, các bị cáo vẫn bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo Hoàng Văn Q đã phạm vào các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251; điểm n khoản 2 Điều 249; điểm a, b khỏa 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Đinh Tiến T đã phạm vào các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251; điểm n khoản 2 Điều 249; điểm a, b khỏa 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy A đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251; điểm b khỏa 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y đã phạm vào các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249; điểm a, b khỏa 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo: Phan Công M, Nguyễn H4, Phạm Minh M1 đã phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khỏa 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

[3] Xét vai trò các bị cáo:

Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”: các bị cáo Hoàng Văn Q, Đinh Tiến T thực hiện hành vi với vai trò đồng phạm, trong đó bị cáo Q là người trực tiếp thực hiện hành vi mua bán nên giữ vai trò chính. Bị cáo T là người giúp Q mua ma túy để bán nên có vai trò sau Q. Bị cáo Nguyễn Duy A có hành vi độc lập nên phải tự chịu trách nhiệm với khối lượng ma túy mà mình đã bán.

Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tất cả các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất đồng phạm. Trong đó, nhóm các bị cáo sử dụng tại căn hộ S tòa B Chung cư T gồm Đinh Tiến T, Nguyễn Thị Hải Y, Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Hoàng Văn Q, Phan Công M, Nguyễn Duy A thì Đinh Tiến T là người chuẩn bị ma túy, chế biến ma túy; T3 là quản lý căn hộ để nhưng mọi người sử dụng và T3, Q trực tiếp chế biến ma túy để mọi người sử dụng, Nguyễn Duy A là người bỏ ma túy cho mọi người sử dụng. Do đó T, T3, Q, Duy A giữ vai trò đầu. Các bị cáo Nguyễn Thị Hải Y, Ngô Thị Minh P1, Phan Công M sau khi sử dụng hết ma túy mà T bỏ ra đã cùng nhau góp tiền để mua và tiếp tục sử dụng nên có vai trò thấp hơn và ngang nhau. Đối với nhóm các bị cáo sử dụng ma túy tại nhà của Phan Công M: M là người quản lý địa điểm sử dụng ma túy, trực tiếp bỏ ma túy cho mọi người sử dụng nên có vai trò đầu; T và Q trực tiếp chế biến và mời mọi người sử dụng nên có vai trò sau. Đối với nhóm các bị cáo sử dụng ma túy tại nhà của Nguyễn H4: H4 là người quản lý địa điểm sử dụng ma túy; T chuẩn bị dụng cụ, Q1 là người chế biến ma túy, sau đó Q và M1 mời mọi người sử dụng ma túy nên có vai trò chính; còn lại các bị cáo cùng góp tiền mua ma túy để sử dụng nên có vai trò sau.

Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: các bị cáo Hoàng Văn Q, Đinh Tiến T, Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y cùng nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng nên có vai trò ngang nhau.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Hoàng Văn Q bán ma túy nhiều lần, do đó phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy, các bị cáo đều không có thu nhập, việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng: quá trình điều tra có thu giữ một số ma túy sau giám định đã được niêm phong và các đồ vật để sử dụng ma túy; thu của Hoàng Văn Q 01 hộp giấy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 01 sim, 01 thẻ căn cước công dân; thu của Đinh Tiến T 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 01 sim, 01 thẻ căn cước công dân; thu của Phạm Bá T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 01 sim, 01 thẻ căn cước công dân; thu của Ngô Thị Minh P1 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 01 sim, 01 thẻ căn cước công dân; thu của Nguyễn Thị Hải Y 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 02 sim, 01 thẻ căn cước công dân; thu của Nguyễn Duy A 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 01 sim, 01 thẻ căn cước công dân; thu của Nguyễn H4 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 02 sim, 01 thẻ căn cước công dân, 02 loa điện tử, 01 bàn đánh nhạc DJ, 01 USB; thu của Phạm Minh M1 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 01 sim, 01 thẻ căn cước công dân; thu của Phan Công M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung + 01 sim, 01 thẻ căn cước công dân;

Đối với ma túy là vật cấm lưu hành; các đồ vật như hộp giấy, loa điện tử, bàn đánh nhạc, U và toàn bộ sim điện thoại đi kèm những chiếc điện thoại di động nêu trên, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với những căn cước công dân, xét thấy là giấy tờ cá nhân của các bị cáo nên cần trả lại.

[8] Về tiền thu lời bất chính: Hoàng Văn Q mua ma túy của Duy A với giá 67.000.000₫ (sáu mươi bảy triệu đồng) bán lại cho người đàn ông Đài Loan với số tiền 72.000.000 đ (bảy mươi hai triệu đồng) và Q lấy ma túy của T bán cho bạn số tiề 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng). Tổng hai lần bán ma túy Q thu lời 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Đây là tiền do phạm tội mà có nên cần buộc Q phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

[9] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

  • - Đối với đối tượng bán ma túy cho T trên trang mạng Telegram; đối với đối tượng "Cò" là người bán ma túy cho Nguyễn Duy A, không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không xem xét.
  • - Đối Nguyễn Bá Huy C3 (sinh năm 2003, trú tại phố P, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) đứng tên số tài khoản số 5580509593 mở tại Ngân hàng B. C3 khai không đăng ký và sử dụng số tài khoản này, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can; kết quả xác minh xác định số thẻ căn cước công dân sử dụng để đăng ký tài khoản ngân hàng trên không phải là căn cước công dân của C3, do đó không có căn cứ và không xem xét.
  • - Đối với Đàm D3 (sinh năm 1994, trú tại xã V, huyện T, thành phố Hà Nội) là chủ số tài khoản 311199456789 mở tại ngân hàng T6 mà Nguyễn Duy A chuyển 52.500.000 đồng vào thanh toán tiền mua ma túy cho đối tượng "Cò". D3 khai sử dụng số tài khoản này để làm dịch vụ chuyển tiền và thỉnh thoảng cho bạn bè mượn để nhận và chuyển tiền. Số tiền 52.500.000 đồng trên là tiền nhận của khách, sau đó D3 trả lại tiền mặt cho khách, D3 không nhớ người khách này là ai. Cho Nguyễn Duy A nhận dạng D3, kết quả xác định D3 không phải là người đã bán ma túy, nên không xem xét.
  • - Đối với Tô Văn N5 (sinh năm 1995, trú tại phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh) là người đến nhà T3 sử dụng ma túy, hiện chưa triệu tập để làm việc được, nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
  • - Đối với Ngô Anh D2 được T nhờ gửi túi đựng ma túy về cho T, nhưng T không nói cho D2 biết là ma túy và cũng không triệu tập được D2, nên không xem xét.

QUYẾT ĐỊNH

Vì các lẽ trên,

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố:

  • + Các bị cáo Hoàng Văn Q và Đinh Tiến T phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Bị cáo Nguyễn Duy A phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Các bị cáo Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y phạm các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Các bị cáo Phan Công M, Nguyễn H4, Phạm Minh M1 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 3 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả ba tội là 29 (hai mươi chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 11/4/2024.

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm p khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Tiến T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả ba tội là 20 (hai mươi) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 11/4/2024.

- Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 05 (năm) năm 06 (sáu) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 12/4/2024.

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

  • + Xử phạt bị cáo Phạm Bá T3 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 11/4/2024.
  • + Xử phạt bị cáo Ngô Thị Minh P1 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 11/4/2024.
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hải Y 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 12/4/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

  • + Xử phạt bị cáo Phan Công M 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 05/7/2024
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn H4 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 11/4/2024
  • + Xử phạt bị cáo Phạm Minh M1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 12/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy:
    • + Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định có trong các phong bì niêm phong số 505/KL-KTHS (số A), số 505/KL-KTHS (số 03) của Phòng K3 Công an tỉnh Q và số 5513/KL-KTHS của V Bộ C4 (loại ma túy và khối lượng ma túy thể hiện tại các Kết luận giám định số 505/KL-KTHS ngày 16/4/2024 và 5513/KL-KTHS ngày 26/7/2024);
    • + 01 hộp giấy; 02 loa điện tử; 01 bàn đánh nhạc DJ; 01 USB và toàn bộ sim điện thoại đi kèm những điện thoại di động thu của các bị cáo.
  • - Tịch thu phát mại sung nộp ngân sách Nhà nước: 09 điện thoại di động thu của các bị cáo;
  • - Trả lại các bị cáo Hoàng Văn Q, Đinh Tiến T, Nguyễn Duy A, Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y, Phan Công M, Nguyễn H4, Phạm Minh M1 mỗi bị cáo 01 căn cước công dân mang tên của chính các bị cáo.

Tình trạng vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng số 29 ngày 11/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Buộc bị cáo Hoàng Văn Q phải nộp lại số tiền 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) để sung nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí: căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hoàng Văn Q, Đinh Tiến T, Nguyễn Duy A, Phạm Bá T3, Ngô Thị Minh P1, Nguyễn Thị Hải Y, Phan Công M, Nguyễn H4, Phạm Minh M1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: án xử công khai, báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tt khác;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS – CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - TTG CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Hải Toản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng văn Q cùng đồng phạm bị xét xử về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger