Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Công Nhân;
  2. Ông Nguyễn Đình Rành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuynh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27/02/2025 và ngày 18/3/2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, Quyết định tạm ngừng số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 27/02/2025 đối với các bị cáo họ và tên:

  1. Nguyễn Thành Đ, tên gọi khác: /; giới tính: Nam; sinh năm 1990 tại tỉnh Hòa Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Số H đường B, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Nguyễn Công Đ1, sinh năm 1954 và bà Hoàng Thị X, sinh năm 1952; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/4/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Trần Thị Mỹ U, tên gọi khác: /; giới tính: Nữ; sinh ngày 17/12/2005 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã N, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: A đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Con ông Trần Văn S, sinh năm 1982 và bà Trần Thị M, sinh năm 1986; Chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/4/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Lê Hồng T, sinh năm 1989 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Quốc T1, sinh năm 1984 (là chồng); Địa chỉ: Số A đường N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: Số A đường T, phường B, Quận G, TP Hồ Chí Minh. (Ông T1 có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Trần Văn S, sinh năm 1982; Địa chỉ: A đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
  • - Ngân hàng TMCP V1; Địa chỉ trụ sở: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Hoàng V, sinh năm 1989; Là người đại diện ủy quyền theo Văn bản ủy quyền số 06/2025/UQN-VPB ngày 21/01/2025 của Ngân hàng TMCP V1 (Ông V có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 11/11/2023, Nguyễn Thành Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 60E-012.46, lưu thông ở làn đường bên trái trên đường T hướng từ đường 16 đến đường số A, Khu chế xuất T, phường T, Quận G khi đến ngã ba đường số A và đường T. Khu chế xuất T, phường T, Quận G. Cùng lúc Trần Thị Mỹ U điều khiển xe máy biển kiểm soát: 36B7- 988.16, chở chị Lê Hồng T lưu thông trên đường T, hướng từ đường A đến đường A đang chuyển hướng rẽ trái vào đường A. Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 60E-012.46 tăng tốc, chuyển làn qua bên phải để tránh nhưng không xử lý kịp va đụng vào bên phải xe mô tô biển kiểm soát: 36B7-988.16. Hậu quả, chị Lê Hồng T được đưa đi bệnh viện cấp cứu tại Bệnh viện N1, đến ngày 25/11/2023, tử vong.

Ngày 25/11/2023, anh Phạm Quốc T1 là chồng của bị hại Lê Hồng T đến Cơ quan Công an để trình báo vụ việc.

* Kết luận giám định tử thi số 13241-23/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an T4, kết luận:

1. Các kết quả chính:

  • - Da đầu không tổn thương. Bên trong, không tụ máu dưới da và trong cơ. Xương hộp sọ, xương hàm mặt không nứt vỡ. Xuất huyết dưới nhện thùy chẩm 2 bên. Nhu mô não không tổn thương.
  • - Rải rác nhiều tổn thương xây xát da, bầm tụ máu cũ ở thân người và tay chân.
  • - Vùng ngực, bụng bên trong không tụ máu dưới da và trong cơ. Xương sụn không tổn thương.
  • - Hai phổi sung huyết, mật độ chắc, mặt cắt nhu mô chảy nhiều dịch xám nâu. Mô phổi đông đặc toàn bộ.
  • - Khoang ngực hai bên chứa khoảng 400ml dịch đục nâu. Xoang màng tim chứa khoảng 30ml dịch vàng trong, ổ bụng sạch. - Gãy kín xương đùi phải và xương cẳng chân trái.
  • - Kết quả tổn thương vi thể: Viêm phổi thùy. Tổn thương gan cấp. Tổn thương thận cấp. Tình trạng rối loạn vì tuần hoàn (ngấm phù, sung huyết ở các tạng).
  • - Xét nghiệm mẫu máu tim, dạ dày không phát hiện các chất độc thường gặp kể trên.

2. Kết luận:

  • - Nguyên nhân chết: Lê Hồng T chết do đa chấn thương diễn tiếp suy gan cấp, suy thận cấp, viêm phổi sau cấp cứu điều trị.
  • - Trong máu, dạ dày không phát hiện các chất độc.

* Kết luận giám định số 350/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP ., kết luận:

  1. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô biển số 60E-012.46 và xe mô tô biển số 3687-988.16 khi xảy ra tai nạn giao thông.
  2. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 605-012.46 và xe mô tô biển số 3687-988.16:
    • - Dấu vết trượt xước, biến dạng, gãy vỡ, mất sơn màu trắng, bám chất màu đen các chỉ tiết bên phải phía trước đầu xe ô tô biển số 60E-012.46 (cản trước, mặt ca lăng, biển số, đèn chiếu sáng) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, biến dạng, gãy vỡ, bám chất màu trắng, mất chất màu đen các chi tiết bên phải xe mô tô biển số 3687-988.16 (sản để chân, ốp nhựa thân xe, để chân sau, lọc gió, pô xe, đèn chiếu sáng phía sau) có chiều từ phải sang trái. Bên phải phía trước xe ô tô biển số 60E-012.46 và bên phải xe mô tô biển số 36B7-988.16 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi tham gia tai nạn giao thông, vì trí này chiếu xuống mặt đường nằm trước đầu vết cày ký hiệu số 3 trong Sơ đồ hiện trường và thuộc khu vực ngã ba giữa đường T và đường A.
    • - Dấu vết các chi tiết bên phải xe ô tô biển số 60E-012.46 (trượt xước, gãy vỡ mâm ngoài bánh trước; trượt xước lốp bánh trước; trượt xước mâm ngoài bánh sau) có chiều từ mặt lăn vào tâm phù hợp va chạm với bó via bê tông bên phải đường T (theo hướng từ đường A về đường A).
    • - Dấu vết trượt xước, gây vỡ các chi tiết phía trước và bên trái xe mô tô biển số 36B7-988.16 (ốp nhựa đầu xe, mặt nạ, hệ thống đèn chiếu sáng phía trước, đầu tay lái, đầu tay phanh, gương chiếu hậu, sàn để chân, để chân sau, chống đứng) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với mặt đường.
  3. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 60E-012.46, xe mô tô biển số 3687-988.16 với phương tiện khác.
  4. Khi xảy ra tai nạn giao thông xe ô tô biển số 60E-012.46 chuyển động trên đường T theo hướng từ đường A về đường A, xe mô tô biển số 36B7- 988.16 chuyển động theo hướng ngược lại và đang rẽ trái vào đường 14.

* Kết luận giám định số 1518/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K1 Công an T4, kết luận: Giấy phép lái xe hạng C, số G, đứng tên Nguyễn Thành Đ, đề ngày 15/12/2020 (ký hiệu A) là thật.

* Kết luận giám định số 3754/KL – KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố T4, kết luận:

Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô như đã nêu tại mục III.

Kèm theo kết luận giám định: Không.

H lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng gửi giám định.

* Kết luận giám định số 9135/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố T4, kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video cần giám định ký hiệu A (đã nêu tại mục II.1).
  2. Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe ô tô 60E – 012.46 (theo yêu cầu tại mục III.2) trong tập tin video cần giám định ký hiệu A (đã nêu tại mục II.1).
  3. Đã chuyển nội dung giọng nói (theo yêu cầu tại mục III.3) ghi nhận được trong tập tin video cần giám định ký hiệu A (đã nêu tại mục II.1). Nội dung chi tiết thể hiện trong phụ lục đính kèm.

Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) phụ lục gồm 01 (một) trang giấy khổ A4.

H lại đối tượng giám định: toàn bộ đối tượng gửi giám định.

* Tại Cơ quan Công an Q, Trần Thị Mỹ U và Nguyễn Thành Đ khai nhận nội dung vụ việc như đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ:

  • + 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 36B7 - 988.16;
  • + 01 (một) bản chính giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 3687 - 988.16 mang tên Trần Văn S (tất cả thu giữ của Trần Thị Mỹ U);
  • + 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 60E - 012.46 do Nguyễn Thành Đ điều khiển;
  • + 01 (một) bản photo giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 60E - 012.46 kèm giấy biên nhận thế chấp số 10192194 mang tên Nguyễn Thành Đ;
  • + 01 (một) bản chính giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT xe ô tô biển số 60E - 012.46;
  • + 01 (một) bản chính giấy phép lái xe hạng C số 7901012796619 mang tên Nguyễn Thành Đ;
  • + 01 (một) hộp đen có mã vạch 860305053306587 (tất cả thu giữ của Nguyễn Thành Đ).

* Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ tai nạn giao thông bị cáo Nguyễn Thành Đại tự N bồi thường số tiền 72.000.000 đồng; bị cáo Trần Thị Mỹ U tự nguyện bồi thương số tiền 3.000.000 đồng. Ông Phạm Quốc T1 là chồng bị hại, đại diện cho bà Trần Thị A, sinh năm: 1963 và ông Lê Hoàng K, sinh năm: 1954 (đã chết), là cha mẹ ruột của bị hại Lê Hồng T nhận lại số tiền trên và có đơn bãi nại và không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị Mỹ U. Gia đình bị hại yêu cầu Nguyễn Thành Đ bồi thường thêm số tiền 100.000.000 đồng và không có yêu cầu về dân sự.

Bản cáo trạng số 11/CT-VKSQ7 ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và bị cáo Trần Thị Mỹ U về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Nguyễn Thành Đ đã có hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và bị cáo Trần Thị Mỹ U đã có hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, nhận thấy các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho các bị cáo. Riêng bị cáo U thời điểm phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đại T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
  • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ U từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.
  • - Trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trần Thị Mỹ U đã tự nguyện bồi thường số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng. Ông Phạm Quốc T1 là chồng bị hại, đại diện cho bà Trần Thị A, sinh năm: 1963 và ông Lê Hoàng K, sinh năm: 1954 (đã chết), là cha mẹ ruột của bị hại Lê Hồng T nhận lại số tiền trên và có đơn bãi nại và không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị Mỹ U.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thành Đ đã tự nguyện bồi thường số tiền 72.000.000 đồng. Ngày 17/3/2025, bị cáo đã bồi thường thêm số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng cho gia đình bị hại. Do vậy, gia đình bị hại xác định không yêu cầu bị cáo Đ bồi thường thêm đồng thời có Đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

  • * Tại phiên tòa:
  • - Các bị cáo không tranh luận gì, các bị cáo biết lỗi, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
  • - Đại diện bị hại trình bày: Ngày 17/3/2025, bị cáo Đ đã bồi thường thêm số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng cho gia đình bị hại. Do vậy, ông xác định không yêu cầu bị cáo Đ bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
  • - Đại diện Ngân hàng trình bày: Bị cáo Nguyễn Thành Đ có vay vốn của Ngân hàng TMCP V1 theo Hợp đồng cho vay số LN2301118134501 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ký ngày 11/01/2023. Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay là 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu: VINFAST; Số loại: VF E34 R5GH01; Số máy: VFAAGB221220054; Số khung: RLLV4HRG4NV000852; Biển số: 60E-012.46; tên chủ xe: NGUYỄN THÀNH Đ theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60 002521 do Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 12/01/2023 theo Hợp đồng thế chấp số LN2208016373834 ký ngày 11/01/2023.

Hiện tài sản thế chấp vay vốn Ngân hàng là chiếc xe nêu trên đang bị tạm giữ trong vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/HSST ngày 06/01/2025 do Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Do Bên vay đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ từ ngày 10/12/2023 nên Ngân hàng đã khởi kiện khách hàng tại Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai giải quyết thu hồi nợ, nên đối với xe ô tô trên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan trong vụ tai nạn, bản khám nghiệm tử thi, các biên bản điều tra là phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Bị cáo Nguyễn Thành Đ có giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 25/12/2020 có giá trị sử dụng đến ngày 15/12/2025.

Bị cáo Trần Thị Mỹ U điều khiển xe trên 50cm³ tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định.

Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 11/11/2023, tại ngã ba đường số A và đường T, Khu chế xuất T, phường T, Quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thành Đ điều khiển xe ô tô biển số 60E – 012.46, lưu thông trên đường T theo hướng từ đường A đến đường A, khi tới ngã ba đường số A và đường T, bị cáo Đ phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 36B7-988.16 do bị cáo Trần Thị Mỹ U điều khiển đang rẽ trái vào đường A, bị cáo Đ không giảm tốc độ mà tăng tốc, chuyển hướng xe về phía bên phải để tránh nhưng không xử lý được tình huống dẫn đến va chạm bên phải phía trước đầu xe ô tô biển số 60E – 012.46 và bên phải xe mô tô biển kiểm soát 36B7-988.16 do bị cáo U điều khiển. Hậu quả vụ tai nạn, làm chị Lê Hồng T tử vong.

Bị cáo Nguyễn Thành Đ đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, điều khiển xe đến đường giao nhau không giảm tốc độ, gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ, vi phạm quy định khoản 23 Điều 8; Luật giao thông đường bộ. Bị cáo Trần Thị Mỹ U điều khiển xe trên 50cm³ tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định; không chú ý quan sát rẽ trái không nhường đường cho xe đi ngược chiều, gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ, vi phạm quy định tại khoản 9, khoản 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của các bị cáo gây hậu quả làm chết người.

Theo các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập thể hiện thời điểm phương tiện do bị cáo U điều khiển chở nạn nhân quẹo sang trái đường còn cách khá xa phương tiện do bị cáo Đ điều khiển theo chiều ngược lại, tuy nhiên bị cáo Đ không kịp thời xử lý tình huống, không đi thẳng mà lại chuyển hướng xe về phía bên phải dẫn đến va chạm, đâm thẳng vào nạn nhân ngồi sau phương tiện của bị cáo U, vị trí nạn nhân ngã cách lề đường khoảng 7m, ngoài ra theo sơ đồ hiện trường vệt thắng xe cũng thể hiện bị cáo không giảm tốc độ.

Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Đ đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, hành vi của bị cáo Trần Thị Mỹ U cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với chủ phương tiện xe mô tô biển số 36B7 – 988.16. Qua xác minh xe do ông Trần Văn S đứng tên chủ sở hữu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, ông S khai nhận, con gái ông là bị cáo Trần Thị Mỹ U làm công nhân tại khu chế xuất T, Quận G hằng ngày bị cáo U đi làm bằng xe máy điện. Ngày 11/11/2023, ông S rời khỏi nhà từ sáng sớm việc U tự ý lấy xe lưu thông gây tai nạn ông S hoàn toàn không biết. Xét, việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý đối với ông Trần Văn S là có cơ sở.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải đưa ra xét xử để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tôi phạm.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi xảy ra tai nạn các bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường đầy đủ thiệt hại cho đại diện hợp pháp của gia đình bị hại, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn và thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngoài ra, gia đình bị hại có đơn bãi nại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Mặt khác, đối với bị cáo U thực hiện hành vi phạm tội khi đủ 16 tuổi dưới 18 tuổi nên áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

Các bị cáo xét về tính chất hành vi phạm tội, về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường đầy đủ thiệt hại cho đại diện hợp pháp của gia đình bị hại, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đối chiếu với quy định tại Văn bản hợp nhất (Nghị quyết số 02/2018/NQ –HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ –HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) số 02/VBHN - TANDTC ngày 07/9/2022 về Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ Luật hình sự quy định về: Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có đủ điều kiện cho cải tạo ngoài xã hội theo hướng dẫn tại Nghị quyết nêu trên. Do đó, không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho các bị cáo hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là thể hiện chính sách pháp luật hình sự nhân đạo của Nhà nước, giúp họ yên tâm cải tạo, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Đ là lao động chính trong gia đình, lái xe là công việc chính để nuôi sống bị cáo và gia đình nên xét miễn hình phạt bổ sung là cấm hành nghề theo quy định tại Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Xử lý vật chứng vụ án:

  • + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade màu xanh xám đen, biển kiểm soát 36B7 - 988.16, Số máy KF41E006556, Số khung RLHKF4100LZ479114 do ông Trần Văn S đứng tên chủ sở hữu và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 3687 - 988.16 mang tên Trần Văn S. Qua xác minh, ngày 11/11/2023, ông S rời khỏi nhà từ sớm nên việc bị cáo U là con gái của ông tự ý lấy xe lưu thông gây tai nạn ông hoàn toàn không biết. Ngày 10/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã có Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 1665/QĐ-CSĐT/ĐTTH tiến hành trả lại xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 36B7 - 988.16 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 3687 - 988.16 mang tên Trần Văn S cho ông Trần Văn S nên Hội đồng xét xử không xét.
  • + 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu VINFAST biển kiểm soát 60E - 012.46, số khung RLLV4HRG4NV000852, số máy VFAAGB221220054 do Nguyễn Thành Đ là chủ sở hữu. Xét, đây là tang vật trong vụ án tuy nhiên cũng là phương tiện để bị cáo nuôi sống bản thân và gia đình nên xét trả lại cho bị cáo.
  • + 01 (một) bản photo giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 60E - 012.46 mang tên Nguyễn Thành Đ kèm giấy biên nhận thế chấp số 10192194 của Ngân hàng TMCP V1 cấp cho Nguyễn Thành Đ. Xét Giấy biên nhận thế chấp có hiệu lực từ ngày 24/8/2023 đến ngày 24/11/2023 không còn giá trị sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử xét lưu hồ sơ vụ án.
  • + 01 (một) bản chính giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 60E - 012.46. Xét trả lại cho bị cáo Đ;
  • + 01 (một) bản chính giấy phép lái xe hạng C số 7901012796619 mang tên Nguyễn Thành Đ do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 15/12/2020 có giá trị sử dụng đến ngày 15/12/2025 (đang được lưu giữ tại hồ sơ vụ án), đây là giấy tờ do cơ quan Nhà nước cấp cho cá nhân bị cáo Đ, do bị cáo Đ không bị cấm hành nghề nên xét trả lại cho bị cáo.
  • + 01 (một) hộp đen của xe ô tô biển kiểm soát 60E - 012.46 có mã vạch 860305053306587 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thành Đ, không còn giá trị sử dụng nên xét tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với bị cáo Trần Thị Mỹ U, trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng cho bị hại. Ông Phạm Quốc T1 là chồng bị hại đã nhận lại số tiền trên đồng thời có đơn bãi nại và không yêu cầu bị cáo Trần Thị Mỹ U bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ, trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 72.000.000 (Bảy mươi hai triệu) đồng. Ngày 17/3/2025, bị cáo đã bồi thường thêm số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng cho gia đình bị hại. Do vậy, gia đình bị hại xác định không yêu cầu bị cáo Đ bồi thường thêm đồng thời có Đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ, nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Đối với ý kiến của Ngân hàng TMCP V1 về việc phương tiện gây tai nạn trong vụ án là xe ô tô nhãn hiệu: VINFAST; Số loại: VF E34 R5GH01; Số máy: VFAAGB221220054; Số khung: RLLV4HRG4NV000852; Biển số: 60E-012.46; tên chủ xe: NGUYỄN THÀNH Đ theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60 002521 do Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 12/01/2023 là tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN2208016373834 ngày 11/01/2023 để đảm bảo cho khoản vay của bị cáo Đ tại Ngân hàng. Đối với xe ô tô trên Ngân hàng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Xét, do xe ô tô nhãn hiệu VINFAST biển kiểm soát 60E - 012.46 được trả lại cho chủ sở hữu là bị cáo Đ nên Ngân hàng TMCP V1 có quyền khởi kiện bị cáo Nguyễn Thành Đ bằng một vụ kiện dân sự khác.

[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành Đ và Trần Thị Mỹ U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thành Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thành Đ cho Ủy ban nhân dân Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thi hành án treo và thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt:

Bị cáo Trần Thị Mỹ U 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Thị Mỹ U cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thi hành án treo và thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

3.1. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành Đ

  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu VINFAST biển kiểm soát 60E - 012.46, số khung RLLV4HRG4NV000852, số máy VFAAGB221220054;
  • - 01 (một) bản chính giấy phép lái xe hạng C số 7901012796619 mang tên Nguyễn Thành Đ do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 15/12/2020;
  • - 01 (một) bản chính giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 60E - 012.46.

3.2. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp đen của xe ô tô biển kiểm soát 60E - 012.46 có mã vạch 860305053306587.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 060 ngày 20/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).

3.3. Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) bản photo giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 60E - 012.46 mang tên Nguyễn Thành Đ kèm giấy biên nhận thế chấp số 10192194 của Ngân hàng TMCP V1 cấp cho Nguyễn Thành Đ.

4. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo tại phiên tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Phương T3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYEN THANH D VA DB - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger