|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18-03-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thiên Bảo
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Dung.
- Bà Hồ Thị Kim Luyến.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Ngày 18 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 562/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Phù Ngô T, sinh năm: 1998
Địa chỉ: Số D, tổ B, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
* Bị đơn: Ông Đào Minh T1, sinh năm: 1987
Địa chỉ: số D (hẻm A) đường M, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Phù Ngô T trình bày theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2024: Bà và ông Đào Minh T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, quận N, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 28, cấp ngày 13 tháng 4 năm 2022.
Thời gian đầu khi mới chung sống thì hai vợ - chồng rất hạnh phúc có với nhau một con chung tên Đào Minh Q (Giới tính: Nam), sinh ngày: 30/6/2021. Thời gian về sau thì vợ - chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, bất đồng công việc; Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng, mặt dù được hai bên gia đình hàn gắn nhưng không thể tự hàn gắn được với nhau. Xét thấy, giữa vợ chồng bà có nhiều mâu thuẫn, hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, ly hôn là giải pháp để có cơ hội tạo lập cuộc sống mới. Vì vậy, bằng đơn này một lần nữa bà yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp thuận cho bà được ly hôn với ông Đào Minh T1;
- Về con chung: Bà xác định có một con chung. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đào Minh Q (Giới tính: Nam), sinh ngày: 30/6/2021. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng;
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
* Bị đơn ông Đào Minh T1 trình bày:
Trước đây ông và bà T qua thời gian tìm hiểu tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, quận N, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 28, cấp ngày 13 tháng 4 năm 2022.
Hiện tại ông còn thương vợ, thương con. Ông muốn hàn gắn tình cảm với vợ, ông cần thời gian để hàn gắn với vợ bà Phù Ngô Trinh. Ông nhận thấy cần tạo điều kiện cho ông sửa chữa những lỗi lầm, ông đề nghị Tòa án cho thời gian ông bình tâm suy nghĩ.
Ông xác định hai vợ - chồng có một con tên Đào Minh Q (Giới tính: Nam), sinh ngày: 30/6/2021.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày theo đơn và biên bản ngày 16/01/2025. Yêu cầu ly hôn với ông Đào Minh T1, về nuôi con bà yêu cầu trực tiếp nuôi con tên Đào Minh Q (Giới tính: Nam), sinh ngày: 30/6/2021. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng; Trường hợp ông T1 tự nguyện cấp dưỡng bà đồng ý nhận theo quy định.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Đào Minh T1 trình bày: Không đồng ý ly hôn, yêu cầu được đoàn tụ, xin thời gian hàn gắn. Trường hợp Tòa án chấp nhận đơn của bà T ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng mỗi tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Phù Ngô T có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Đào Minh T1 có nơi cư trú tại quận N, Thành phố Cần Thơ, quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Quan hệ tranh chấp này thuộc Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét về chứng cứ và nội dung yêu cầu giải quyết vụ kiện:
Xét tính hợp pháp: Giữa bà Phù Ngô T và ông Đào Minh T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, quận N, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 28, cấp ngày 13 tháng 4 năm 2022, nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu: Nguyên đơn và bị đơn đã có thời gian dài chung sống vợ - chồng với nhau, đồng thời giữa nguyên đơn và bị đơn cũng có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, do bất đồng quan điểm sống, không tìm được biện pháp nào để hàn gắn, bà T đã về nhà cha – mẹ sinh sống, cả hai đã sống ly thân nhau, ông Đào Minh T1 tại buổi hòa giải ngày 16/01/2025 đề nghị cho ông thời gian để tìm biện pháp hàn gắn hôn nhân giữa ông và bà T. Tuy nhiên, bà T trình bày đến ngày xét xử ông T1 không đưa ra biện pháp nào để thiết phục bà T đoàn tụ gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ - chồng không còn như lúc đầu, không thể chung sống với ông T1 được nữa nên yêu cầu ly hôn, đồng thời bà có ý kiến được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét: Nguyên tắc của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, các thành viên trong gia đình phải có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhưng giữa nguyên đơn và bị đơn đã không còn sự tin yêu, quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, về cách đối xử vợ - chồng trong cuộc sống hàng ngày không hòa hợp, Hội đồng xét xử đã cho thời gian để ông T1 tìm biện pháp hàn gắn. Tuy nhiên, không có kết quả, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông - bà là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này mục đích hôn nhân vẫn không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014); nguyên đơn bà Phù Ngô T yêu cầu xin ly hôn với bị đơn ông Đào Minh T1 là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Đương sự trình bày có một con chung tên Đào Minh Q (Giới tính: Nam), sinh ngày: 30/6/2021 bà Phù Ngô T có ý kiến trực tiếp nuôi dưỡng một con chung, bà xác định hiện đang nuôi con. Xét, con chung chưa được 07 tuổi đang sống với bà T, bà T trình bày buôn bán có thu nhập ổn định hiện cho con học đầy đủ, ông T1 trình bày ông có nguyện vọng nuôi con, ông có công việc lái xe mỗi tháng thu nhập khoảng 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng ông lo cho con được. Xét, quá trình ly thân từ tháng 01 năm 2024 qua trình bày bà T là người trực tiếp nuôi con tại nhà bà huyện C, tỉnh Kiên Giang, ông T1 không thường xuyên đến thăm con, không cấp dưỡng nuôi con, bà T là người trực tiếp nuôi con đến thời điểm xét xử, con chung đã có thời gian dài sinh sống được bà T nuôi dưỡng từ khi sinh ra và từ tháng 01 năm 2024 khi bà T về nhà tại huyện C, tỉnh Kiên Giang nếu giao con chung cho ông T1 sẽ làm thay đổi sự phát triển bình thường của trẻ em nên bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi con là phù hợp. Căn cứ Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Hội đồng xét xử đã giải thích pháp luật về quyền của trẻ em được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, trường hợp ông T1 tự nguyện cấp dưỡng nuôi con bà đồng ý. Ông T1 không đồng ý ly hôn nếu được Tòa chấp nhận đơn thì ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) đây là sự tự nguyện của đương sự không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quyền lợi của trẻ em được pháp luật bảo vệ, nên Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông T1.
Vì quyền lợi của trẻ em, nếu các đương sự thực hiện việc trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên không tốt thì có thể yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu được thay đổi cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T1. Không ai được quyền ngăn cản ông T1 thực hiện quyền này.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định không có. Nên không xem xét giải quyết. Trong trường hợp có tranh chấp, đương sự có đơn yêu cầu Tòa án sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác theo quy định.
[3] Xét, lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa là phù hợp với quy định pháp luật, không trái với đạo đức xã hội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Lời trình bày của bị đơn chưa đủ chứng cứ chứng minh nên chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ áp dụng:
- - Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 266; Điều 267; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 51, 56, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014);
- - Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T2 (Quy định về án phí, lệ phí Tòa án),
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Phù Ngô T với ông Đào Minh T1 như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phù Ngô T được ly hôn với ông Đào Minh T1.
- Về con chung: Giao con chung tên Đào Minh Q (Giới tính: Nam), sinh ngày: 30/6/2021 cho bà Phù Ngô T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng;
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông Đào Minh T1 tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng mỗi tháng). Thời gian cấp dưỡng được thực hiện từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Vì quyền lợi của trẻ em, nếu các đương sự thực hiện việc trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên không tốt thì có thể yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu được thay đổi cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T1. Không ai có quyền ngăn cản ông T1 thực hiện quyền này.
Về tài sản chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trường hợp có tranh chấp, khi đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí:
- Bà Phù Ngô T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu 0001891, ngày 10/9/2024 thành án phí. Đương sự đã nộp xong tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/03/2025) các bên đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ kiện theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thiên B |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phù Ngô T được ly hôn với ông Đào Minh T1
