Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————

Bản án số: 03/2025/HS-ST

Ngày: 19/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Nhật Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Bang
Bà Vi Thị Nghiêm

– Thư ký phiên toà: Bà Lộc Hồng Nhung – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Quang Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 20/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 05/02/2025, đối với các bị cáo:

1. Voòng Văn B, sinh ngày 14/8/1985 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 01/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Voòng Chăn S (đã chết) và bà Choóng Sám M (đã chết); họ tên vợ: Lỷ S, bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 02/9/2024, bị tạm giam đến ngày 24/10/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

2. Nông Minh N, sinh ngày 19/8/1989 tại huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn H và bà La Thị M1; họ tên vợ: Vũ Thị T, bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/5/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Bị cáo đầu thú ngày 03/9/2024, bị tạm giam đến ngày 15/11/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

2

3. Lương Văn T1, sinh ngày 29/9/1993 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn C và bà Trần Thị L; họ tên vợ: Đinh Thị L1, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: Ngày 22/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2024; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/9/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đầu thú ngày 16/10/2024, bị tạm giam đến ngày 15/11/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

4. Giáp Hồng M2, sinh ngày 05/8/1990 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Giáp Văn T2 và bà Hoàng Thị L2; họ tên vợ: Nguyễn Thị L3, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 30/8/2024, bị tạm giam đến ngày 24/10/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

5. Phạm Văn T3, sinh ngày 25/9/1984 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Nguyễn Thị T4; họ tên vợ: Trương Bích N1, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/5/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên xử phạt 03 tháng 27 ngày tù về tội “Đánh bạc”, trả tự do ngay tại phiên tòa ngày 08/5/2012. Bị cáo đầu thú ngày 04/9/2024, bị tạm giam đến ngày 15/11/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

6. Nguyễn Minh T5, sinh ngày 20/9/1991 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc H2 (đã chết) và bà Đặng Thùy D; có vợ là: Phạm Thị T6; con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đầu thú ngày 02/9/2024, bị tạm giam đến ngày 15/11/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

7. Tô Văn Q, sinh ngày 17/8/1989 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Sán Dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Cắm S1 (đã chết) và bà Lưu Thị M3; họ tên vợ: Lương Thị N2, bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 31/8/2024, bị tạm giam đến ngày 24/10/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

3

8. Hoàng Sơn H3, sinh ngày 15/8/1992 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): là Đảng viên Đ1, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 05/9/2024; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn V và bà Vũ Thị N3; họ tên vợ: Phạm Thị Hồng A, bị cáo có 01 con, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 30/8/2024, bị tạm giam đến ngày 24/10/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

9. Triệu Quý V1, sinh ngày 26/6/1979 tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 01/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Tắc V2 (đã chết) và bà Đặng Thị T7 (đã chết); họ tên vợ: Chíu Thị B1, có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 30/8/2024, bị tạm giam đến ngày 24/10/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

10. Hoàng Văn Q1, sinh ngày 11/8/1984 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L4 (đã chết) và bà Trần Thị P; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/8/2024, bị tạm giam đến ngày 24/10/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

11. Đặng Văn B2, sinh ngày 06/02/1981 tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 01/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Tằng V3 (đã chết) và bà Triệu Kim T8; họ tên vợ: Triệu Thị H4, bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 11/10/2024, bị tạm giam đến ngày 24/10/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

12. Vi Văn B3, sinh ngày 20/12/1992 tại huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn P1 (đã chết) và bà Mã Thị Ú; họ tên vợ: Lộc Thị T9, bị cáo có 01 con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 03/9/2024, bị tạm giam đến ngày 24/10/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

4

13. Lục Thị K, sinh ngày 15/4/1982 tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Khu F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 4/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn P2 (đã chết) và bà Hoàng Thị H5 (đã chết); họ tên chồng: Nguyễn Văn Đ, đã ly hôn, bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/8/2024, bị tạm giam đến ngày 24/10/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.

– Người làm chứng:

Chị Tằng Ửng M4, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

– Người chứng kiến:

Anh Tô Văn T10, sinh năm 1982; địa chỉ: thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 29/8/2024, Voòng Văn B gọi điện thoại rủ Hoàng Sơn H3, Giáp Hồng M2, Đặng Văn B2, Lương Văn T1, Tô Văn Q đến nhà B để đánh bạc thì những người này đồng ý và đến nhà B, sau đó có thêm Nguyễn Minh T5, Triệu Quý V1, Lục Thị K, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Nông Minh N và Phạm Văn T3 cũng đến nhà B để đánh bạc. Khi có mặt những người trên, B xuống bếp lấy 01 tấm bạt, 01 chiếc bát sứ, 01 chiếc đĩa sứ, 13 chiếc ghế nhựa, 04 quân vị được cắt từ bộ bài tú lơ khơ có từ trước, rồi cho vào một chiếc bao, cầm đèn pin đi ra sân và nói “ai đi đánh bạc thì theo tôi”, rồi dẫn mọi người đi ra khu rừng phía sau nhà. Lúc này, M2 đưa cho T5 5.000.000đ nhờ đưa cho T1 để góp “tẩy”, Q nhắn tin cho T5 thỏa thuận mỗi người góp 2.000.000đ để làm “vị khô” còn Q và M2 vẫn ngồi ở nhà B uống nước chè. Bốn ra đến khu rừng phía sau nhà thì trải bạt ra đất, để ghế và bát đĩa lên bạt rồi thỏa thuận mỗi người tham gia đánh bạc phải nộp cho B số tiền 200.000đ, mọi người đồng ý. Sau đó B đi vào nhà và nhờ Nông Minh N thu tiền “hồ” hộ và đưa cho N 01 bộ đàm để giúp B canh gác tại nơi đánh bạc, còn B đi vào nhà uống nước cùng M2, Q và cầm 01 bộ đàm để canh gác cho mọi người đánh bạc.

Tại nơi đánh bạc, T1, T3, H3, M2 thống nhất mỗi người góp 5.000.000₫ để làm “tẩy”. Do lúc dó có ít người đánh bạc nên T1 bỏ ra trước 5.000.000đ của T1 để làm “tẩy”, nếu thua hết thì T3, H3, M2 bỏ tiền ra để làm “tẩy” tiếp. T11 thua như thế nào thì sau khi kết thúc xới bạc thì tính sau. T3 là người cầm bát, đĩa xóc để người chơi thả tiền đặt cược đánh bạc, T1 là người giam tiền (thu tiền của người thua, trả cho người thắng, phần tiền chênh lệch giữa hai bên là đặt cược ăn thua với T1). Cách thức đánh bạc như sau: Cả nhóm đánh bạc bằng hình thức đánh “xóc đĩa”, những người tham gia đánh bạc dùng 04 (bốn) quân vị hình tròn được cắt từ lá bài tú lơ khơ, có hai mặt khác nhau, một mặt đỏ và một mặt xanh, cho vào trong lòng một chiếc đĩa sứ và dùng một chiếc bát sứ úp vào rồi người cầm cái xóc để 04 (bốn) quân vị úp, lật ngẫu nhiên và đặt nguyên cả bát úp trên đĩa xuống chiếu để những người tham gia chơi đặt tiền cược. Người chơi đặt tiền của mình vào cửa chẵn hoặc cửa lẻ; cửa chẵn là khi mở bát ra có 04 quân vị hoặc 02 quân vị lật cùng một mặt thì người đặt cửa chẵn sẽ thắng; cửa lẻ là khi mở bát ra có 03 quân vị hoặc 01 quân vị lật cùng một mặt thì người đặt cửa lẻ sẽ thắng. Khi mọi người đặt tiền xong thì người xóc cái mở bát ra để kiểm tra số các mặt quân vị phù hợp với cửa chẵn hoặc cửa lẻ mà người đánh bạc đặt cược thì người cầm cái (làm “tẩy”) phải trả tiền cho người thắng và thu tiền của người thua. Mọi người thống nhất mức đánh bạc thấp nhất một lần đặt cược là 50.000đ, mức cao nhất không hạn chế.

5

Khi T3 cầm cái để đánh xóc đĩa, thì Nguyễn Minh T5 đứng ra làm “vị khô” là một hình thức đánh bạc khác trong ván xóc đĩa. Những người tham gia đánh bạc ngoài đặt cược vào cửa chẵn và lẻ với người xóc cái (người làm “tẩy”) thì tiếp tục đặt tiền đối với người đứng ra làm vị khô và người làm vị khô phải trả cho người chơi khi người xóc cái mở bát đĩa ra mà có các trường hợp sau:

  • – Trường hợp 1: 01 quân xanh và 03 quân đỏ, hoặc 01 quân đỏ và 03 quân xanh, thì gọi là vị 3 đỏ hoặc 3 xanh, các vị này đặt cược 1 thì ăn 3 lần số tiền đặt;
  • – Trường hợp 2: 04 quân xanh (4 sấp), hoặc 04 quân đỏ (4 ngửa), thì gọi là vị 4 xanh hoặc 4 đỏ (sấp 4 hoặc ngửa 4), các vị này đặt cược 1 thì ăn 10 lần số tiền đặt;
  • – Trường hợp 3: 02 quân xanh và 02 quân đỏ, thì gọi là sấp đôi, vị này đặt cược 1 thì ăn 2,5 lần số tiền đặt.

Nếu người chơi đặt tiền vào các cửa vị mà không ra các trường hợp trên thì người tham gia chơi vị khô sẽ bị mất số tiền đã đặt cược.

Mọi người đánh bạc đến khoảng 00 giờ ngày 30/8/2024 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện bắt quả tang và bắt được Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Lục Thị K, còn những người khác bỏ chạy.

Vật chứng thu giữ: 01 tấm vải bạt hình chữ nhật kích thước (192x92)cm, một mặt màu xanh, một mặt màu cam, đã qua sử dụng; 01 bát sứ màu trắng có in hoa văn, đường kính miệng bát rộng 11cm; 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính rộng 18,5cm; 04 quân hình tròn, đường kính 02cm được cắt từ quân bài tú lơ khơ, một mặt màu xanh, một mặt là chất cơ màu đỏ; 13 ghế nhựa đều có kích thước (20x20x15)cm, trong đó có 04 ghế màu hồng, 03 ghế màu xanh dương, 03 ghế màu trắng, 02 ghế màu xanh lá cây, 01 ghế màu đỏ; số tiền Việt Nam đồng 11.250.000đ.

Đến 13 giờ và 16 giờ ngày 30/8/2024, Hoàng Sơn H3 và Giáp Hồng M2 đến Công an huyện T đầu thú. Tiếp theo, ngày 31/8/2024 Tô Văn Q; ngày 02/9/2024 Voòng Văn B, Nguyễn Minh T5; ngày 03/9/2024 Vi Văn B3, Nông Minh N; ngày 05/9/2024 Phạm Văn T3; ngày 11/10/2024 Đặng Văn B2; và ngày 16/10/2024 Lương Văn T1 lần lượt đến Công an huyện T đầu thú.

6

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung vụ án nêu trên; các bị cáo khai nhận cụ thể: Hoàng Sơn H3 bỏ ra 7.000.000đ để đánh bạc, nộp tiền hồ 200.000đ, khi bị bắt đã thua hết; Giáp Hồng M2 góp “tẩy” số tiền 5.000.000đ cùng với T1 để đánh bạc, không nộp tiền hồ (M2 đã đưa tiền cho T5, T5 đưa cho N nhờ gửi cho T1, nhưng Nhận chưa đưa và đã bị đánh rơi khi bỏ chạy); Phạm Văn T3 góp 5.000.000đ làm “tẩy” cùng với T1 để đánh bạc, không nộp tiền hồ (T3 chưa bỏ tiền vì tiền T1 vẫn còn); Lương Văn T1 mang 5.000.000đ để đánh bạc (làm “tẩy”), không nộp tiền hồ, lúc bị bắt đang thua 1.000.000đ; Nguyễn Minh T5 mang theo 3.200.000đ để đánh bạc (làm “vị khô”), nộp tiền hồ 200.000đ, khi bị bắt đang thắng 1.150.000đ; Tô Văn Q góp 2.000.000₫ làm “vị khô” cùng với T5 để đánh bạc, Q không nộp tiền hồ và chưa bỏ tiền vì thỏa thuận T5 bỏ tiền ứng ra trước; Triệu Quý V1 mang theo 2.700.000đ để đánh bạc, nộp tiền hồ 200.000đ, khi bị bắt đang thua 700.000đ; Hoàng Văn Q1 mang theo 1.650.000đ để đánh bạc, nộp tiền hồ 200.000đ, khi bị bắt đã thua hết; Đặng Văn B2 bỏ ra 700.000đ để đánh bạc, nộp tiền hồ 200.000đ, khi bị bắt đã thua hết, Ba có tham gia xóc cái cho mọi người đánh bạc; Vi Văn B3 có 600.000₫ bỏ ra đánh bạc, nộp hồ 200.000đ, khi bị bắt đang còn 450.000₫ và bị rơi trong lúc bỏ chạy; Nông Minh N mang theo 600.000đ dùng đánh bạc, không nộp hồ, khi bị bắt đã thua hết, ngoài ra Nhận còn canh gác và thu tiền hồ hộ bị cáo B được số tiền 1.500.000₫ nhưng Nhận chưa đưa cho B mà bị đánh rơi trong lúc bỏ chạy; Lục Thị K có 200.000đ dùng để đánh bạc, không nộp tiền hồ, đặt cửa 02 ván, đã bị thua hết.

Tổng số tiền thu giữ 11.250.000đ (Mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện T; các vật chứng còn lại đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Yên theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận như sau:

– Bị cáo Voòng Văn B khai nhận: Bị cáo có quen biết một số người T1, T5, M2, Q, B3, Ba; hôm đó (29/8/2024) B gọi điện cho Q, M2, T1 đến nhà B uống nước chè, trong khi uống nước thì B có nói có gọi ai đến đánh chơi thì chơi (ý nói chơi đánh bạc xóc đĩa); sau đó thì có thêm những người khác nữa đến nhà B. Bị cáo B lấy vải bạt, bát, đĩa, quân bài và 01 chiếc đèn pin (đèn tích điện) để thắp sáng rồi bảo mọi người ra khu vực rừng phía sau nhà bị cáo để chơi đánh bạc, vì ở nhà bị cáo có trẻ con, chơi không tiện. Bị cáo bảo với mọi người là sẽ thu tiền hồ từ 100.000đ đến 200.000đ/ 01 người, bị cáo trao đổi và giao cho Nông Minh N việc thu tiền hồ, đưa cho N 01 bộ đàm và bảo N ở trong xem xét anh em chơi, còn bị cáo B quay về nhà ngồi cảnh giới, uống nước chè, lúc đó có cả M2 và Q cùng ngồi uống nước. Bị cáo B khai không tham gia chơi bạc, chỉ thu tiền của người chơi; nhưng chưa biết có bao nhiêu người chơi (do có nhóm người chơi vào lúc đầu, và về sau có người vào thêm, bị cáo không để ý là những ai?), cũng không biết Nhận đã thu được bao nhiêu tiền? Đến khoảng 12 giờ đêm thì có lực lượng Công an ập vào bắt giữ, bị cáo bỏ chạy. Do biết hành vi của mình sai phạm nên ngày 02/9/2024 bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú.

7

– Bị cáo Nông Minh N khai hôm đó bị cáo đang uống nước mía ở gần nhà B thì thấy mọi người lên nhà B nên bị cáo lên cùng; B bảo mọi người đi vào trong kia đánh bạc thì bị cáo đi cùng vào khu vực rừng, mục đích vào để chơi bạc. Bốn nhờ bị cáo thu tiền hồ hộ, nam thì thu 200.000đ, nữ thì thu 100.000đ; bị cáo chỉ thu hộ giúp cho B không được hưởng lợi gì, và đã thu được số tiền 1.500.000đ; Bốn có đưa cho bị cáo 01 bộ đàm và nói có gì thì gọi; T5 có đưa cho bị cáo 5.000.000₫ bảo là tiền góp “tẩy” của Mạnh góp với T1, nhưng bị cáo N chưa đưa cho T1. Bị cáo có tham gia đánh bạc với số tiền 600.000đ của bị cáo và bị thua hết. Khi Công an đến kiểm tra thì bị cáo bỏ chạy, đánh rơi mất số tiền thu hồ 1.500.000đ, 5.000.000₫ T5 đưa, và chiếc bộ đàm; bị cáo biết sai phạm nên đã ra đầu thú.

– Bị cáo Lương Văn T1 khai nhận: Bốn điện thoại cho bị cáo bảo lên nhà uống nước chè, thấy mọi người bảo vào trong đánh bạc thì bị cáo đồng ý. Bị cáo bỏ ra 5.000.000₫ để đánh bạc, có M2, T3 và H3 bảo với bị cáo cho chung “tẩy”/ chung tiền với bị cáo, mỗi người 5.000.000đ, để đánh bạc. Bị cáo không đặt cửa, cái bán đâu thì bị cáo ăn đó; T3 là người xóc cái, ngoài ra có Ba cũng xóc cái một lúc; bị cáo chưa nộp tiền hồ. Lúc bị Công an kiểm tra bị cáo đang thua 1.000.000₫, số tiền 4 triệu còn lại bị cáo bị rơi trong lúc bỏ chạy; bị cáo ra đầu thú để hưởng khoan hồng.

– Bị cáo Giáp Hồng M2 khai nhận: B gọi điện đến uống nước chè; bị cáo có đưa cho bị cáo T5 5.000.000đ mục đích nhờ đưa cho T1 để gửi tham gia đánh bạc; bị cáo không trực tiếp chơi, không vào xới bạc, chỉ ngồi ở nhà B uống nước; bị cáo không biết T1 có phải nhà cái hay không, chỉ gửi tiền để đánh bạc cùng T1; khi Công an đến thì bị cáo bỏ chạy, bị cáo thấy bị truy tố không oan sai gì; đầu thú để được giảm nhẹ tội.

– Bị cáo Phạm Văn T3 khai nhận: Bị cáo đi theo bị cáo H3 từ xã H cách đó khoảng hơn 10km, do biết là có đánh bạc tại nhà B nên bị cáo tự đến; bị cáo có tham gia đánh bạc và là người xóc cái; bị cáo thỏa thuận chung tiền với T1 số tiền 5.000.000đ để đánh bạc nhưng chưa bỏ tiền ra. Bị cáo biết sai nên đầu thú để được giảm nhẹ hình phạt.

– Bị cáo Nguyễn Minh T5 khai nhận: Có tham gia đánh bạc; bị cáo đi liên hoan tại xã H, khi quay về qua nhà B thấy mọi người tụ tập tại nhà B, thấy mọi người bảo đi đánh bạc thì bị cáo đi theo. Bị cáo bỏ ra 3.200.000đ để đánh bạc, nộp tiền hồ 200.000đ cho Nhận; bị cáo không đặt cửa mà thỏa thuận cùng với bị cáo Q chung tiền (mỗi người 2.000.000₫) xem ai đánh “vị” thì ăn, Q chưa đưa tiền cho bị cáo; khi đang thắng 1.150.000đ thì Công an đến, bị cáo để lại tiền trên chiếu bạc và bỏ chạy.

– Bị cáo Tô Văn Q khai nhận: Có tham gia đánh bạc, bị cáo thỏa thuận chung tiền 2.000.000đ với T5 để “làm vị khô”; bị cáo chỉ ở ngoài, không vào chiếu bạc, chưa bỏ tiền ra mà thỏa thuận T5 bỏ ra ứng trước; bị cáo đầu thú để giảm nhẹ tội.

– Bị cáo Hoàng Sơn H3 khai nhận: Bị cáo đi từ H, sau khi uống rượu say thấy có người bảo lên Điền Xá đánh bạc thì bị cáo đi lên, bị cáo biết đó là nhà B. Bị cáo dùng 7.000.000đ để đánh bạc, bị cáo có nói với T1 là chung với T1 5.000.000đ để làm “tẩy”, đồng thời bị cáo có đặt cửa, bị cáo chưa đưa tiền cho T1 thì đã đặt cửa đánh thua hết nên đi về trước. Bị cáo biết mình sai phạm nên ra đầu thú, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

8

– Bị cáo Triệu Quý V1 khai nhận: Có tham gia đánh bạc, bị cáo thấy bị cáo B2 bảo B gọi lên đánh bạc thì bị cáo đến, mục đích đánh bạc để kiếm tiền về tiêu dịp 2/9; bị cáo mang đi 2.700.000đ, nộp tiền hồ 200.000đ, đánh thua hết; khi Công an đến bị cáo bị bắt ngay tại chỗ.

– Bị cáo Hoàng Văn Q1 khai nhận: Có tham gia đánh bạc, B gọi bị cáo đến uống rượu, sau đó đánh bạc; bị cáo bỏ ra 1.650.000đ, nộp hồ 200.000đ còn lại đánh thua hết; khi cơ quan Công an đến bị cáo vẫn còn ở đó ngồi xem, nên bị bắt giữ, bị cáo không bị thu giữ tài sản, đồ vật gì.

– Bị cáo Đặng Văn B2 khai nhận: Có tham gia đánh bạc, bỏ ra 700.000đ, nộp tiền hồ 200.000đ, còn lại đánh bạc và bị thua hết tiền; sau khi hết tiền thì bị cáo ngồi xem và có xóc cái một lúc khoảng 10' phút; Công an đến bị cáo bỏ chạy, bị cáo biết vi phạm pháp luật nên ra đầu thú để được giảm nhẹ tội.

– Bị cáo Vi Văn B3 khai: Có tham gia đánh bạc, bị cáo tự đến, không ai gọi, do nhà bị cáo gần nhà B nên biết có đánh bạc. Bị cáo có 600.000₫ dùng đánh bạc, đặt cửa được khoảng 20 phút thì thua hết.

– Bị cáo Lục Thị K khai: Có tham gia chơi bạc; hôm đó bị cáo đi cùng bị cáo B2 (là bạn trai bị cáo) đến nhà B; khi đến đó thấy có xới bạc, bị cáo có 200.000₫ đánh được 02 ván thì thua hết.

Tại Bản cáo trạng số: 121/CT-VKS ngày 17/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên đã truy tố Lương Văn T1, Giáp Hồng M2, Phạm Văn T3, Nguyễn Minh T5, Tô Văn Q, Hoàng Sơn H3, Đặng Văn B2, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Lục Thị K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; truy tố Voòng Văn B về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố Nông Minh N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321, và tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên giữ nguyên quyết định truy tố, và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lương Văn T1, Giáp Hồng M2, Phạm Văn T3, Nguyễn Minh T5, Tô Văn Q, Hoàng Sơn H3, Đặng Văn B2, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Lục Thị K phạm tội “Đánh bạc”; Voòng Văn B phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Nông Minh N phạm các tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”.

Đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn T1 từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi thời gian đã bị tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến ngày 15/11/2024;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền bị cáo Voòng Văn B từ 50.000.000₫ đến 60.000.000đ;

9

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm a khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền bị cáo Nông Minh N từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ về tội “Đánh bạc”, từ 25.000.000₫ đến 30.000.000đ về tội “Tổ chức đánh bạc”; tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là: phạt tiền từ 35.000.000đ dến 45.000.000đ;

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn T3, Hoàng Sơn H3 (bị cáo H3 được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS), xử phạt tiền bị cáo Phạm Văn T3, Hoàng Sơn H3 mỗi bị cáo từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ;

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Minh T5, Giáp Hồng M2 (bị cáo M2 được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS), xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Minh T5, Giáp Hồng M2 mỗi bị cáo từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ;

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Tô Văn Q, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Đặng Văn B2, Lục Thị K (các bị cáo Q, B3, Ba được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS), xử phạt tiền các bị cáo Tô Văn Q, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Đặng Văn B2, Lục Thị K mỗi bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.

Về vật chứng, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu 11.250.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước; tịch thu tiêu hủy: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị, 01 tấm vải bạt, 13 chiếc ghế nhựa, đã qua sử dụng.

Tại phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng, đều ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Voòng Văn B, Nông Minh N khai nhận về hành vi tổ chức đánh bạc; các bị cáo Lương Văn T1, Giáp Hồng M2, Phạm Văn T3, Nguyễn Minh T5, Tô Văn Q, Hoàng Sơn H3, Đặng Văn B2, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Lục Thị K, Nông Minh N đều khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung Cáo trạng và Kết luận điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác. Các bị cáo đều khẳng định lời khai của mình trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, và đúng với diễn biến sự việc xảy ra vào tối đêm ngày 29/8/2024, rạng sáng ngày 30/8/2024 tại khu vực rừng sau nhà Voòng Văn B.

10

Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ; kết hợp cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ và đã được làm rõ tại phiên tòa, đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 29/8/2024, tại khu vực rừng keo thuộc thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh, Voòng Văn B đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, quân vị, bát sứ, đĩa sứ, bạt, ghế nhựa, phân công Nông Minh Nhận canh gác để tổ chức cho Lương Văn T1, Giáp Hồng M2, Phạm Văn T3, Nguyễn Minh T5, Tô Văn Q, Hoàng Sơn H3, Đặng Văn B2, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Lục Thị K và cả Nông Minh N đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, dưới hình thức chơi xóc đĩa, để thu tiền hồ số tiền 1.500.000đ. Đến 00 giờ 10 phút ngày 30/8/2024, thì bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 11.250.000₫ (Mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), 01 vải bạt hình chữ nhật, 01 bát sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 04 quân vị hình tròn và 13 ghế nhựa.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Lương Văn T1, Giáp Hồng M2, Phạm Văn T3, Nguyễn Minh T5, Tô Văn Q, Hoàng Sơn H3, Đặng Văn B2, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Lục Thị K đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Voòng Văn B đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; hành vi của Nông Minh N đã phạm vào các tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 và điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên đã nêu và viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ phạm tội, vai trò của các bị cáo:

[3.1] Tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; đánh bạc, tổ chức đánh bạc là tệ nạn xã hội, không chỉ làm tiêu tốn tài sản của cá nhân và gia đình người tham gia đánh bạc, mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích sát phạt đỏ đen nhằm chiếm đoạt tiền của nhau, các bị cáo tổ chức đánh bạc thì nhằm mục đích trục lợi thông qua việc thu tiền hồ của các con bạc; do đó, cần xử lý nghiêm để đảm bảo công tác răn đe, phòng ngừa.

[3.2] Vai trò của các bị cáo trong đồng phạm:

Vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo Voòng Văn B và Nông Minh N đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Lương Văn T1, Giáp Hồng M2, Phạm Văn T3, Nguyễn Minh T5, Tô Văn Q, Hoàng Sơn H3, Đặng Văn B2, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Lục Thị K và Nông Minh N đồng phạm tội “Đánh bạc”. Trong đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc” thì Voòng Văn B là người chủ mưu, khởi xướng, gọi điện cho các con bạc, bố trí vị trí, địa điểm, công cụ, phương tiện để đánh bạc, đưa ra mức thu tiền hồ, phân công bị cáo N thu tiền, cảnh giới, nên giữ vai trò chính, bị cáo Nông Minh N là đồng phạm giúp sức cho bị cáo B thực hiện hành vi phạm tội. Trong nhóm đồng phạm tội “Đánh bạc”: các bị cáo T1, M2, T3, T5, Q, H3 có vai trò tích cực (đứng ra chung tiền/ thỏa thuận chung để tiền làm “tẩy”, làm “vị khô”, là những nhà cái trong xới bạc) nên giữ vai trò đầu, các bị cáo T3, B2 là người tham gia xóc cái, các bị cáo còn lại V1, Quyền, B3, K cùng tham gia chơi đánh bạc, có vai trò ngang nhau, tất cả đều là người thực hiện tội phạm, số tiền mỗi bị cáo bỏ ra đánh bạc là cao, thấp có khác nhau cũng là một trong những căn cứ để xem xét, đánh giá, phân hóa vai trò của các bị cáo trong đồng phạm.

11

Số tiền các bị cáo bỏ ra đánh bạc: cao nhất là bị cáo H3 bỏ ra 7.000.000₫, thấp nhất là bị cáo K bỏ ra 200.000đ, dùng để ăn thua đỏ đen, sát phạt nhau trong xới bạc, đây cũng là một trong những căn cứ xem xét khi quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với các bị cáo:

[4.1] Tình tiết tăng nặng:

Bị cáo T1 phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm”, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo T1, T5, Nhận, T3 có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về các tội phạm, cũng là những tình tiết cần xem xét khi quyết định hình phạt.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Các bị cáo M2, Q, B2, H3, V1, Q1, B3, K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Các bị cáo B, Nhận, T1, T5, M2, Q, T3, Ba, H3, B3 sau khi phạm tội ra đầu thú; bị cáo N có bố đẻ là ông Nông Văn H tham gia quân đội được tặng thưởng Bằng khen, quá trình sinh hoạt tại địa phương bị cáo Nhận được tặng Giấy khen của chính quyền địa phương. Do đó, các bị cáo B, T1, T5, M2, Q, T3, Ba, H3, B3 được hưởng thêm 01 (một) tình tiết giảm nhẹ, bị cáo N được hưởng thêm 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc: Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 11.250.000đ; quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ được bị cáo H3 sử dụng 7.000.000đ, bị cáo T1 sử dụng 5.000.000đ, bị cáo M2 sử dụng 5.000.000đ, bị cáo T5 sử dụng 3.200.000đ, bị cáo V1 sử dụng 2.700.000đ, bị cáo Q1 sử dụng 1.650.000đ, bị cáo B2 sử dụng 700.000đ, bị cáo N sử dụng 600.000đ, bị cáo B3 sử dụng 600.000đ, bị cáo K sử dụng 200.000đ để đánh bạc; các bị cáo T3 thỏa thuận góp 5.000.000đ để chung “tẩy”, và Q góp 2.000.000đ để chung “làm vị khô”, nhưng thực tế chưa bỏ tiền. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc theo lời khai của các bị cáo là 26.650.000đ, tuy nhiên quá trình bắt giữ chỉ thu giữ được tại xới bạc số tiền 11.250.000đ, một số bị cáo khai bị rơi tiền trong quá trình bỏ chạy. Do đó, cả 12 bị cáo phạm tội đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng số tiền đánh bạc là 11.250.000đ. Bị cáo B, bị cáo N chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc, số tiền B thu lời bất chính là 1.500.000đ, tuy nhiên đã bị đánh rơi trong quá trình bỏ chạy; bị cáo N không được B chia cho hưởng lợi từ số tiền hồ thu được.

12

[4.3] Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân các bị cáo, các tình tiết khác như đã phân tích ở trên thì thấy:

Bị cáo Lương Văn T1 đã có tiền án, cũng về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc, cần thiết phải xử phạt tù giam cách ly bị cáo khỏi xã một thời gian để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Đối với các bị cáo còn lại, đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phần lớn ra đầu thú và hợp tác tốt với cơ quan điều tra, số tiền các bị cáo đánh bạc không quá lớn, phạm tội tự phát, không chuyên nghiệp. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có đủ khả năng tự cải tạo ngoài xã hội. Xét toàn diện vụ án thì thấy rằng, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với các tội phạm về cờ bạc có xu hướng tăng cường phạt tiền, tại khoản 1 Điều 321 và khoản Điều 322 Bộ luật Hình sự về tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” đều có quy định phạt tiền là hình phạt chính. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, xét thấy có thể áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền đối với các bị cáo này, để nộp ngân sách Nhà nước, vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa mà không cần thiết áp dụng hình phạt tù, đồng thời cũng để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt là phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

[6] Về vật chứng của vụ án và các vấn đề khác:

Vật chứng của vụ án: Số tiền 11.250.000đ thu giữ trong quá trình điều tra là tiền dùng để đánh bạc, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 04 (bốn) quân vị hình tròn, 01 (một) bát sứ, 01 (một) đĩa sứ, 01 (một) tấm vải bạt, 13 (mười ba) ghế nhựa là các công cụ sử dụng để đánh bạc, cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật (một số bị cáo là người dân tộc thiểu số nhưng không sinh sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

[1] Tuyên bố: Bị cáo Voòng Văn B phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Lương Văn T1, Giáp Hồng M2, Phạm Văn T3, Nguyễn Minh T5, Tô Văn Q, Hoàng Sơn H3, Đặng Văn B2, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Lục Thị K phạm tội “Đánh bạc”; bị cáo Nông Minh N phạm các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.

13

[1.1] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn T1 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ đi thời gian đã bị tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến ngày 15/11/2024.

[1.2] Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Voòng Văn B 50.000.000₫ (Năm mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[1.3] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm a khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Minh N 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) về tội “Đánh bạc”, và 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Tổ chức đánh bạc”; Tổng hợp hình phạt chung là: phạt tiền 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[1.4] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T5 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[1.5] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T3 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[1.6] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Sơn H3 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[1.7] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giáp Hồng M2 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[1.8] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tô Văn Q 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[1.9] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn B2 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[1.10] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Quý V1 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[1.11] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q1 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[1.12] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn B3 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

14

[1.13] Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lục Thị K 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[2] Về biện pháp ngăn chặn:

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với các bị cáo Voòng Văn B, Nông Minh N, Giáp Hồng M2, Phạm Văn T3, Nguyễn Minh T5, Tô Văn Q, Hoàng Sơn H3, Đặng Văn B2, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3 và Lục Thị K.

[3] Về vật chứng:

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 11.250.000đ (Mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng);

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vải bạt hình chữ nhật; 01 (một) bát sứ màu trắng có in hoa văn; 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 04 (bốn) quân hình tròn; 13 (mười ba) ghế nhựa.

(Tình trạng vật chứng được thể hiện tại Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 30/8/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T; Biên bản giao nhận tài sản số 01/2025/BBBG-CATY ngày 04/01/2025; Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 01/2025/BBBG-CATY này 04/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Kho bạc Nhà nước T; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 12/CCTHADS-BB ngày 18/02/2025 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Yên).

[3] Án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Voòng Văn B, Nông Minh N, Lương Văn T1, Giáp Hồng M2, Phạm Văn T3, Nguyễn Minh T5, Tô Văn Q, Hoàng Sơn H3, Đặng Văn B2, Triệu Quý V1, Hoàng Văn Q1, Vi Văn B3, Lục Thị K mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Tiên Yên;
  • - Công an huyện Tiên Yên (CQ CSĐT);
  • - CQ THAHS CA huyện Tiên Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Yên;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Nhật Quang

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 03/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Voòng Văn Bốn + Cđp đánh bạc, tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger