Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 13-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Tuấn Hoàng.

Bà Lê Thị Mỹ.

Bà Trần Thị Đẹp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 257/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H, sinh năm 2005, tại tỉnh Bình Dương; nơi thường trú: Số 148, tổ 3, ấp 1A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: dân phòng; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T và bà Nguyễn Thị T1; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần tại Trại Tạm giam - Công an tỉnh B.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh H: Ông Dương Minh N là Luật sư Văn phòng Luật sư Dương Minh N thuộc Đoàn luật sư tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần tại Trại Tạm giam - Công an tỉnh Bình Dương.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1949. (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

  1. Ông Dương Anh T2, sinh năm 1978; nơi cư trú: tổ 4, ấp 1A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  2. Bà Dương Hải L, sinh năm: 1973, nơi cư trú: 3 N, phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

2

  1. Bà Dương Thị Mỹ L1, sinh năm: 1982, nơi cư trú: 23/9 Nguyễn Cửu Vân, phường 17, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

Bà Dương Hải L và bà Dương Thị Mỹ L1 đã có văn bản ủy quyền cho ông Dương Anh T2.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1980; nơi cư trú: tổ 3, ấp 1A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Bùi Đình Đ, sinh năm 1963, có mặt.
  2. Ông Nguyễn Tấn Đ1, sinh năm 2005, vắng mặt.
  3. Bà Lê Thị Thu M1, sinh năm 1983, có mặt.

- Người hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần Trại Tạm giam - Công an tỉnh Bình Dương: Đại úy Nguyễn Quốc Duy – Phó Đội trưởng Đội cảnh sát bảo vệ - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 30/3/2024, sau khi uống bia cùng bạn là anh Nguyễn Tấn Đ1 tại nhà của Nguyễn Minh H ở số nhà A, tổ C, ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, H nảy sinh ý định đi cướp tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định của mình, H lấy 01 (một) con dao (loại dao bấm) và đôi bao tay vải màu đen bỏ vào túi quần bên trái, một 01 (một) chày gỗ dài 32 cm, đường kính 46cm dắt lên baga chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61K1-018.33, dùng làm hung khí rồi đeo khẩu trang y tế màu trắng để cho người bị tấn công không nhận ra H. Sau đó, H điều khiển xe mô tô đi trên đường ĐT 741 từ nhà của H đến ngã ba B rồi quay về hướng nhà của H, tìm người đi xe mô tô một mình tại khu vực đường vắng để thực hiện hành vi cướp tài sản. Trên đường quay về đến ngã tư B, thấy bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1949, nơi thường trú: tổ D, ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương điều khiển xe mô tô biển số 61NA-005.55 đi từ đường ĐT741 vào khu dân cư P nên H điều khiển xe đi theo bà M với ý định tấn công bà M để cướp tài sản. Khi đến khu vực cổng sau của Trường Mầm non P tại ấp A, xã P, bà M dừng xe lại, dựng xe bên lề đường rồi đi đến thùng rác trước cổng trường để nhặt phế liệu. H dựng xe cách vị trí để xe của bà M khoảng hơn 10 mét, đeo bao tay vào rồi xuống xe, cầm cái chày và con dao, nấp vào khu đất trồng cây sao, cây dầu gần đó quan sát. Thấy bà M nhặt phế liệu xong, quay lại ngồi lên xe chuẩn bị rời đi, H liền tiến đến chỗ bà M. Sợ bà M phát hiện nên H để đôi dép quai kẹp màu đen tại chỗ ẩn nấp, đi chân trần để tránh tạo ra tiếng động rồi cầm cái chày bằng tay phải, đi đến đánh vào vùng đầu của bà M một cái, mục đích làm cho bà M không chống cự được để H lấy tiền của bà M. Bị H đánh, bà M và xe mô tô của bà M ngã xuống đường, bà M nằm

3

ngã với tư thế nằm ngửa và la lớn. Lúc này, Hoàng sợ những người dân trong khu dân cư và bảo vệ khu dân cư phát hiện nên H ném khúc cây xuống đất rồi dùng con dao đang cầm ở tay trái đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng mặt, cổ, tay của bà M để bà M không thể kêu cứu nữa. H đâm tổng cộng 10 nhát làm thủng da cơ vùng đầu, mặt, cổ, tay trái; gãy 1/3 dưới xương cánh tay trái; đứt, thủng tĩnh mạch cảnh bên phải; đứt các mạch máu nhỏ vùng cổ phải của bà M. Lúc này, H thấy máu từ vùng cổ của bà M chảy ra nhiều, đồng thời bà M lên tiếng xin H cứ lấy tài sản của bà M đi, đừng giết bà M, H mới phát hiện bà M là người già nên H không lấy tài sản nữa mà nhanh chóng nhặt cái chày dưới đất, chạy lại chỗ để xe của H.

H để cái chày lên ba ga xe, xếp con dao lại, bỏ vào giỏ nhỏ gần bên trong bửng xe rồi điều khiển xe về nhà và để quên đôi dép tại khu vực H ẩn nấp trước đó. Về đến nhà, H đến bồn rửa chén trong nhà bếp, rửa máu dính trên con dao vừa gây án rồi cất con dao trên nóc tủ quần áo của H, còn cái chày H để tại khu vực bồn rửa chén, xong H đi ngủ. Sáng ngày 30/3/2024 ông Bùi Đình Đ phát hiện thi thể bà Nguyễn Thị M tại hiện trường nên trình báo Công an xã P, huyện P giải quyết. Đến ngày 02/4/2024, Nguyễn Minh H đến Công an xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định tử thi số 1711/KLGĐTT-PC09 ngày 05/4/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương đối với Nguyễn Thị M kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương.

- Kết quả chính qua giám định: Tử thi có nhiều vết thương thủng da cơ vùng đầu, mặt, cổ, tay trái; gãy 1/3 dưới xương cánh tay trái; đứt, thủng tĩnh mạch cảnh bên phải; đứt các mạch máu nhỏ vùng cổ phải; xương sọ, mô não không dập rách; các tạng nhợt nhạt, không dập vỡ. Trong đó:

- Đầu- mặt- cổ:

  • + Chẩm phải có dấu vết thương da bờ mép sắc gọn kích thước (1x0,2)cm (vết số 1).
  • + Vùng cổ, chẩm phải có 04 (bốn) vết thương da có bở mép sắc gọn có kích thước lần lượt (vết số 2) kích thước (3x0,7)cm, (vết số 3) kích thước (2,5x0,7)cm, (vết số 4) kích thước (2,5x1,2)cm, (vết số 5) kích thước (3x0,3)cm, các vết thương có chiều hướng từ ngoài vào trong, từ phải sang trái.
  • + Vùng trán phải: tụ máu sây sát da nhẹ kích thước (4x3,5)cm, thủng da sát đuôi chân mày trái kích thước (1x0,2)cm (vết số 6), thủng da trán phải kích thước (3x0,4)cm (vết số 7), chạm xương sọ, thủng da kích thước (1,8x0,2)cm (vết số 8), các vết thương có bờ mép sắc gọn.
  • + Vùng mang tai, cổ trái có vết thủng da cơ có bờ mép sắc gọn gây đứt vành tai trái và thủng da cơ vùng mang tai cổ trái kích thước (05x01)cm (vết số 9) có chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, từ

4

trước ra sau, sâu chạm cơ cổ phía chẩm trái, gây đứt các mạch máu nhỏ vùng này.

  • + Tứ chi: mặt sau ngoài 1/3 dưới cánh tay trái có vết thủng da cơ có bờ mép sắc gọn KT (04x01)cm (vết số 10), vết thương dọc theo thân người, chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trái qua phải. Gãy 1/3 dưới xương cánh tay.

Tại Công văn số 232/PC09 ngày 08/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương về việc phúc đáp Công văn số 2560/CV-CSHS ngày 30/5/2024 như sau:

- Vết sây sát da, tụ máu ở vùng trán phải là do vật tày gây ra, được hình thành theo cơ chế va đập.

- Các vết thương thủng, đứt da cơ ở vùng đầu, mặt, cổ và tay trái có bờ mép sắc gọn, gây đứt thủng mạch cảnh phải, đứt các mạch máu vùng cổ phải là do vật sắc nhọn gây ra, được hình thành theo cơ chế đâm.

Tại Kết luận giám định số 1724/KL-KTHS(SV) ngày 15/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương đối với 01 dấu vết màu nâu đỏ thu trên xe mô tô biển số 61NA-005.55 và 01 chìa khóa của xe mô tô biển số 61NA-005.55 như sau:

- Dấu vết màu nâu đỏ thu trên đầu xe gửi đến giám định là máu người. Phân tích được kiểu gen (ADN) hoàn chỉnh của một người nữ giới từ dấu vết máu người này trùng với kiểu gen của Nguyễn Thị M.

Tại Kết luận giám định số 1836/KL-KTHS(SV) ngày 26/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương đối với 01 dao bấm, 01 đôi bao tay vải, 01 đôi dép dạng quai kẹp như sau:

- Trên con dao (loại dao bấm) và trên cái bao tay có may viền chỉ màu đỏ ở vùng cổ tay gửi đến giám định đều có bám dính máu người. Phân tích được kiểu gen (ADN) hoàn chỉnh của một người nữ giới từ mẫu máu người này và đều trùng với kiểu gen của Nguyễn Thị M.

- Về thu giữ vật chứng:

  • + 01 (một) dao bấm, 01 (một) cây chày gỗ (KT: dài 32 cm, đường kính 46cm), 01 (một) áo khoác màu đen, 01 (một) đôi bao tay vải màu đen, là công cụ bị can sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng. (Bút lục số 203-204)
  • + 01 (một) nón bảo hiểm màu đen; 01 (một) quần dài màu đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A77s; 01(một) đôi dép kẹp màu đen không rõ nhãn hiệu (KT: 28x10,5cm). Đây là tài sản của Nguyễn Minh H, không liên quan đến việc phạm tội.
  • + 01 (một) chìa khóa của xe mô tô nhãn hiệu Honda SUPER CUB50 biển số 61NA- 005.55; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xám, số IMEI: 867609037140159 và số IMEI: 867609037140142. Đây là tài sản của bị hại

5

Nguyễn Thị M. Ngày 20/7/2024, Cơ quan điều tra đã giao trả tài sản trên cho ông Dương Anh T2, là đại diện theo pháp luật của bà M.

  • + 01 (một) bản phô tô Căn cước công dân tên Nguyễn Minh H và 07 thẻ nhớ có chữ MicroSD lưu giữ hình ảnh thu qua camera đựng trong 01 túi được niêm phong có mộc dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và họ tên, chữ ký của cán bộ Thái Minh S, Nguyễn Tấn Đ1 được thống kê vào hồ sơ vụ án.
  • + Dấu vết máu người thu giữ trên đầu xe mô tô biển số 61NA- 005.55 và mẫu máu của bị hại Nguyễn Thị M để phục vụ công tác giám định. Sau giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương niêm phong theo quy định và hoàn lại mẫu vật sau giám định.
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 61K1-018.33, màu đen-đỏ. Đây là xe của bà Huỳnh Thị T3 bán lại cho ông Nguyễn Xuân Q, ông Q bán cho ông Nguyễn Văn T4 là cha của H, ông T4 cho H sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự:

- Ông Dương Anh T2 là đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị M yêu cầu Nguyễn Minh H bồi thường tổng số tiền 340.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi triệu đồng), gồm: 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) chi phí mai táng và 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng) tổn thất tinh thần. Nguyễn Minh H đã tác động ông Nguyễn Thành T là cha của H bồi thường một phần chi phí mai táng cho gia đình bị hại, số tiền 58.000.000 đồng (năm mươi tám triệu đồng).

Cáo trạng số 20/CT-VKSBD-P2 ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 và điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cùng với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ có đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội Giết người và tội Cướp tài sản, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123, điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật. Về tình tiết tăng nặng đối với bị cáo: không; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Nguyễn Minh H đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật

6

Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Minh H để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội Giết người và tội Cướp tài sản, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 và điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 123, điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt Nguyễn Minh H mức án Chung thân về tội Giết người và mức án từ 07 năm đến 08 năm về tội Cướp tài sản. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự đề nghị tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh H mức án tù Chung thân. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh H trình bày lời bào chữa: về tội danh Viện kiểm sát truy tố bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội nên thống nhất với cáo trạng truy tố. Bổ sung thêm một số tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, hợp tác tốt với cơ quan điều tra, việc bị cáo sau khi đâm bà M nhưng không lấy tài sản gì là một tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, đã từng tham gia công tác bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Minh H đồng ý lời bào chưa và không tranh luận.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Dương Anh T2 trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo đúng quy định của pháp luật và bồi thường thiệt hại cho gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thành T trình bày: thay mặt bị cáo xin lỗi bị hại và kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Minh H.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành

7

tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cùng với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ nhu cầu cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 02 giờ ngày 30/3/2024, tại khu vực trường Mầm non P thuộc ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Minh H đã sử dụng 01 (một) khúc cây (loại dùng để đập đá) đánh vào vùng sau gáy của bà Nguyễn Thị M làm bà M ngã xuống đường, mục đích làm cho bà M không chống cự được để H cướp tiền của bà M. Tuy nhiên, khi bị đánh, bà M ngã xuống đường và la lớn, H sợ người dân hoặc bảo vệ trong khu dân cư phát hiện nên H đã dùng 01 (một) con dao, loại dao bấm đâm tổng cộng 10 nhát vào chẩm phải, đuôi chân mày trái, trán phải, mang tai cổ trái, mặt sau ngoài 1/3 dưới cánh tay trái của bà M, ngoài ra bà M còn bị đứt vành tai trái, gãy 1/3 dưới xương cánh tay trái để bà M không thể la lớn, cầu cứu nữa. H dùng dao đâm bà M cho đến khi bà M lên tiếng xin H đừng giết bà M, H mới phát hiện bà M là người già, thấy vùng cổ bà M chảy nhiều máu nên H hoảng sợ, nhanh chóng rời khỏi hiện trường và không lấy tài sản gì của bà M. Hậu quả, làm bà Nguyễn Thị M tử vong. Cáo trạng số 20/CT-VKSBD-P2 ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 và điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh H là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác đã có hành vi sử dụng khúc cây đánh vào vùng sau gáy của bị hại làm bị hại ngã xuống đường và dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm tổng cộng 10 nhát vào cơ thể của bị hại nhằm tước đoạt mạng sống của bị hại, bị cáo thực hiện hành vi bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân sinh sống tại khu vực. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú theo quy định tại các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

8

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

[8] Bị cáo Nguyễn Minh H cùng một lần bị xét xử về nhiều tội nên áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để quyết định tổng hợp hình phạt.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Ông Dương Anh T2 là đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị M yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh H bồi thường tổng số tiền 340.000.000 đồng, gồm 160.000.000 đồng chi phí mai táng và 180.000.000 đồng tổn thất tinh thần. Ông Nguyễn Thành T là cha của H đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 158.000.000 đồng, còn lại 182.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền còn lại cho gia đình bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[10] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) dao bấm; 01 (một) chày gỗ kích thước: 32x4,6cm; 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) đôi bao tay vải màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen; 01(một) quần dài màu đen; 01 (một) đôi dép kẹp màu đen không rõ nhãn hiệu; 02 (hai) mẫu vật sau giám định là vết máu người thu giữ trên đầu xe mô tô biển số 61NA- 005.55 và mẫu máu của bị hại Nguyễn Thị M được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương niêm phong theo quy định là công cụ bị cáo dùng để thực hiện tội phạm và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A77s là tài sản của bị cáo nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 61K1-018.33 là tài sản của ông Nguyễn Thành T là cha của bị cáo H, ông T cho H sử dụng và không biết mục đích bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản”.

2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:

2.1 Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật Hình sự.

9

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H tù Chung thân về tội “Giết người”.

2.2 Áp dụng điểm điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”.

2.3 Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự:

Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội, buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chấp hành hình phạt chung là tù Chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/4/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 591 và 593 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Minh H có trách nhiệm bồi thường cho ông Dương Anh T2 340.000.000 (ba trăm bốn mươi triệu) đồng được khấu trừ số tiền 58.000.000 (năm mươi tám triệu) đồng gia đình bị cáo đã bồi thường.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng do ông Nguyễn Thành T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000310 ngày 18/11/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dao bấm; 01 (một) chày gỗ kích thước: 32x4,6cm; 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) đôi bao tay vải màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen; 01(một) quần dài màu đen; 01 (một) đôi dép kẹp màu đen không rõ nhãn hiệu.

Tiếp tục tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A77s màu đen, số imeil: 866941069097135, imei2: 866941069097127 của bị cáo Nguyễn Minh H để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho ông Nguyễn Thành T: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 61K1-018.33, thể tích: 110,3cm, có số khung số máy không đổi, không phát hiện dấu vết cắt hạn, đục sửa; số khung: RLCS5C6K0EY177961, số máy: 5C6K-177962.

10

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương ngày 18 tháng 9 năm 2024).

5. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Minh H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương;
  • - Trại Tạm giam - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án (3);
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP (2), hồ sơ vụ án, PHT, 19.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Chum

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự: giết người và cướp tài sản

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Giết người và Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh H phạm tội Giết người và Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger