Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LỘC

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 12 - 3 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

— Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Tô Quang Trung;
  • Ông Trần Đình Đông.

— Thư ký phiên tòa: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

— Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hương Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/HSST ngày 11 tháng 2 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Ngô Thị T, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1983, tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; Nơi thường trú: Thôn C - Còn Vèn, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T1 (đã chết) và bà Chu Thị V (đã chết); không có chồng và có 01 con sinh năm 2008; tiền án: có 02 tiền án; ngày 18/6/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 87/2019/HSST (chưa chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, đối với phần trách nhiệm dân sự CQTHADS chưa nhận được đơn yêu cầu của người được thi hành án) đến nay chưa được xoá án tích; ngày 22/4/2021 bị Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 33/2021/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2023 (đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, đối với phần trách nhiệm dân sự CQTHADS chưa nhận được đơn yêu cầu của người được thi hành án), chưa được xoá án tích; tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/02/2017 bị Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 08/2017/HSST, đã được xoá án tích. Hiện bị cáo đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khởi tố điều tra trong một vụ án khác và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L từ ngày 20/11/2024, đến ngày 21/12/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L đến nay, vắng mặt.

— Bị hại: Bà Hà Thị V1, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

— Người làm chứng:

  1. Bà Đinh Thị T2, sinh năm 1971, vắng mặt.
  2. Bà Tăng Thị C, sinh năm 1956, vắng mặt.
  3. Bà Dương Thị L, sinh năm 1953, vắng mặt.
  4. Anh Phùng Văn Đ, sinh năm 1988, vắng mặt.
  5. Ông Phùng Văn M, sinh năm 1961, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6 năm 2024, bị cáo Ngô Thị T quen biết Đinh Thị T2 là người tình nguyện trong đoàn Nhà thờ và đi cùng đoàn thiện nguyện đến nhà bà Hà Thị V1 để thăm và tặng quà cho bà V1. Do đó, bị cáo biết bà V1 và nhà bà V1. Đến ngày 26/6/2024, bị cáo quay lại nhà bà V1 chơi và xin ngủ lại qua đêm, bà V1 đồng ý. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 27/6/2024, khi bà V1 dậy đi vệ sinh, T thấy tủ quần áo của bà V1 không khóa và đang hé mở nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo mở tủ quần áo của bà Hà Thị V1 thì thấy bên trong có 01 túi dân tộc màu xám có hoa văn nhiều màu, chiều dài khoảng 25cm, chiều rộng khoảng 12cm, túi có một nút bấm và chỉ có một ngăn được bà Hà Thị V1 cất trong tủ, bên trong túi có số tiền khoảng 11.000.000 đồng, bị cáo đã lấy hết số tiền đó và cất vào người, sau khi lấy tiền xong bị cáo để chiếc túi vào vị trí cũ rồi đóng tủ lại. Một lúc sau bà V1 quay lại thì bị cáo rủ bà V1 đi Văn Lãng chơi, bà V1 đồng ý. Sau đó bị cáo cùng bà V1 đi ra cây xăng Y để bắt xe đi V. Khi đến cây xăng bị cáo hỏi bà V1 có mang Căn cước công dân không thì bà V1 bảo không mang nên bị cáo bảo bà không có Căn cước công dân đến lúc công an hỏi thì khó, thấy vậy bà V1 quay về nhà để lấy Căn cước công dân, còn bị cáo tự bắt xe khách đi về huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Số tiền mà bị cáo trộm của bà V1 bị cáo đã tiêu xài hết vào mục đích cá nhân.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSCL ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Ngô Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử công bố đơn xin xét xử vắng mặt của bị cáo có xác nhận của Nhà giam G và công bố lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, qua việc công bố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, thấy bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Công bố lời khai của bị hại tại Cơ quan điều tra, bà Hà Thị V1, trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo về diễn biến sự việc, số tiền bị mất và yêu cầu bị cáo hoàn trả cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý trả số tiền 11.200.000 (mười một triệu hai trăm nghìn) đồng như yêu cầu của bà Hà Thị V1 mà bị cáo đã chiếm đoạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc trong phần tranh luận, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38, Điều 48, Điều 50; điểm n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, cần buộc bị cáo phải trả cho bị hại số tiền 11.200.000 (mười một triệu hai trăm nghìn) đồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo theo quy định.

Phần tranh luận: Do bị cáo và bị hại đều có đơn xin xử vắng mặt tại phiên toà nên không có phần tranh luận trực tiếp. Hội đồng xét xử công bố đơn xin xử vắng mặt của bị cáo và bị hại, theo đó bị hại yêu cầu bị cáo hoàn trả tiền chiếm đoạt, các vấn đề khác đề nghị giải quyết theo quy định; bị cáo mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và đồng ý hoàn lại số tiền đã chiếm đoạt của bị hại.

Lời nói sau cùng: Do bị cáo xin xử vắng mặt, nên bị cáo không có nói lời sau cùng và tại đơn xin xử vắng mặt, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện C trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và công bố lời khai, đơn xin xử vắng mặt tại phiên tòa thì bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt bị cáo, bị hại. Xét đơn xin xét xử vắng mặt của bị cáo với lý do hiện bị cáo đến ngày sắp sinh, không tiện đi lại và xét đơn xin xét xử vắng mặt của bị hại, đồng thời xét thấy việc vắng mặt của những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290; khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử.

[3] Về lời khai thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo được công bố tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy rằng: Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được công bố tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ xác định: Khoảng 06 giờ sáng ngày 27/6/2024, bị cáo Ngô Thị T đã có hành vi lén lút, trộm số tiền 11.200.000 đồng của bà Hà Thị V1. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Do bản án trước đã xác định là tái phạm mà chưa được xoá án tích, nay phạm tội mới nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có chứng cứ ngoại phạm đối với bị cáo.

[4] Xét tính chất hành vi của bị cáo, thấy rằng: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác, bị cáo có rất nhiều bản án tuyên phạt về các hành vi chiếm đoạt nhưng không lấy đó làm bài học, và lần thực hiện hành vi này, đã thể hiện sự coi thường pháp luật, khả năng cải tạo hạn chế của bị cáo, do đó cần phải được tuyên là có tội và chịu hình phạt với mức hình phạt cao hơn. Để có mức hình phạt phù hợp với nhận định đó và phù hợp với hành vi của bị cáo, Hội đồng đánh giá các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ, thấy rằng:

[5] Về nhân thân, bản án số 08/2017/HSST ngày 28/02/2017 của Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xoá án tích, nên được xác định bị cáo có nhân thân xấu;

[6] Về tình tiết tăng nặng, theo Bản án số 87/2019/HSST ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, nhưng chưa chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, đối với phần trách nhiệm dân sự CQTHADS chưa nhận được đơn yêu cầu của người được thi hành án đến nay chưa được xoá án tích; ngày 22/4/2021 bị TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử về tội Trộm cắp tài sản, xử 03 năm tù có thời hạn theo bản án số 33/2021/HSST đã chấp hành xong án phạt tù ngày 01/12/2023 (đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo bản án số 33/2021/HSST đối với phần trách nhiệm dân sự CQTHADS chưa nhận được đơn yêu cầu của người được thi hành án). Tại bản án này đã xác định bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tăng nặng định khung là tái phạm nguy hiểm.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là phụ nữ có thai. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở đánh giá này, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Công bố lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà của bị hại thì bà Hà Thị V1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 11.200.000 (mười một triệu hai trăm nghìn) đồng. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 11.200.000 (mười một triệu hai trăm nghìn) đồng. Xét thấy việc thoả thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 357; Điều 584; Điều 589 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử cần tuyên buộc bị cáo phải hoàn trả cho bị hại.

[10] Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại tài sản không liên quan trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11] Về án phí: Bị cáo Ngô Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[12] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hướng giải quyết toàn bộ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38, Điều 48, Điều 50, điểm n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 357, Điều 584, Điều 589 của bộ luật Dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Ngô Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Thị T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 20/11/2024.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại bà Hà Thị V1 số tiền 11.200.000 (mười một triệu hai trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về án phí: Bị cáo Ngô Thị T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước và 560.000 (năm trăm sáu mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn (1b);
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn (1b);
  • - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (1b);
  • - PC11 Công an tỉnh Lạng Sơn (1b);
  • - Chi CTHADS huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (1b);
  • - Bị cáo (1b);
  • - Bị hại (1b);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Bẩy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger