Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-PT

Ngày 10-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Giang
Ông Phạm Hữu Trường

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 11/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 do có kháng cáo của các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Đầu cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; đầu cầu thành phần tại Trại Tạm giam Công an thành phố H.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Lưu Đại Đ, sinh năm 2001, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Q, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Quang Đ1 và bà Phạm Thị G; có vợ là Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HSST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 33 tháng tù về “Tội gây rối trật tự công cộng”, bị cáo bị tạm giữ ngày 10/7/2024 đến ngày 12/7/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
  2. Lưu Văn Q, sinh năm 1980; tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Q, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn L và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Bùi Thị N, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 09/01/2024; có mặt.

- Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng kháng nghị số 01/QĐ-VKS ngày 03/01/2025.

- Người bào chữa cho bị cáo Lưu Đại Đ và bị cáo Lưu Văn Q: Ông Nguyễn Đức N1 và ông Nguyễn Giang T1 - Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Ông Nguyễn Đức N1 có mặt; ông Nguyễn Giang T1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 28/8/2023, anh Đỗ Văn T2, sinh năm 2000, ở thôn Q, xã Q, huyện A gọi điện thoại cho L1 Đại Đức hẹn gặp nói chuyện về việc Đ nhắn tin tán tỉnh bạn gái của anh T2. Thấy vậy, Đ gọi điện thoại cho Lưu Văn Q (là chú ruột) và Nguyễn Tùng L2, sinh năm 1997, ở thôn A, xã A, huyện A để cùng đi gặp anh T2. Lưu Đại Đ điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 15A-49282 đến đón Q, khi đi Q cầm theo 01 con dao dài khoảng 60cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 40cm, cán bằng gỗ dài khoảng 20cm, vỏ bọc bên ngoài dao bằng gỗ. Lưu Đ điều khiển xe đi đến Trường C ở thôn Q, xã A, huyện A thì gặp và đón L2 lên xe. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, cả ba đi đến nhà anh T2 thuê trọ ở thôn Q, xã A. L2 bảo Đ, Quảng chờ ở ngoài rồi đi một mình vào trong nhà gọi anh T2 ra để nói chuyện. Khi anh T2 đi ra đến khu vực giữa sân thì Quảng lao đến chửi, tay trái cầm vỏ dao, tay phải cầm dao chém nhiều nhát làm anh T2 bị thương ở cánh, cẳng tay trái và đùi trái; Đ cầm 01 thanh kim loại tối màu, dài khoảng 40cm- 50cm chạy vào vụt vào người nhưng anh T2 tránh được. Thấy vậy, Lâm ôm và đẩy Q ra phía ngoài cổng nhà trọ, anh T2 bỏ chạy vào trong nhà. Lúc này anh Bùi Quang P, sinh năm 1999, ở thôn C, xã K, huyện T (ở cùng với anh T2) chạy từ trong nhà trọ ra thì bị Đ cầm thanh kim loại chạy đến vụt vào lưng. Anh P dùng tay đấm Đ 03 cái thì Q vào can ngăn, anh P đi vào trong nhà, Đ điều khiển xe ô tô chở Q về. Anh Đỗ Văn T2 được L2 cùng mọi người đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa huyện A đến ngày 07/9/2023 thì xuất viện.

Bản Giám định số 790/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 10/11/2023 của Trung tâm Pháp y thành phố H đã kết luận về thương tích của anh Đỗ Văn T2 như sau: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn T2 - sinh năm 2000 tại thời điểm giám định là 12%. Sẹo vết thương mặt sau 1/3 dưới cánh tay trái không được ghi nhận ban đầu trong hồ sơ bệnh án nên không có căn cứ tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể mà cần làm rõ thêm. Kết luận khác: Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

2

Bản Giám định bổ sung số 495/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 05/7/2024 của Trung tâm Pháp y thành phố H đã kết luận về thương tích của anh Đỗ Văn T2 như sau: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn T2 tại thời điểm giám định là 13%, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mặt sau 1/3 dưới cánh tay trái gây nên là 01% .

Quá trình điều tra, Lưu Văn Q xuất trình tài lài liệu mắc bệnh tâm thần. Cơ quan điều tra Công an huyện A đã trưng cầu giám định tâm thần đối với Lưu Văn Q. Bản Giám định Pháp y tâm thần số 39/KLGĐ ngày 03/5/2024 của Trung tâm P1 khu vực miền núi phía Bắc thuộc Bộ Y đã kết luận về bệnh tâm thần của Lưu Văn Q như sau: “Lưu Văn Q, sinh năm 1980, trú tại thôn Q, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng không bị bệnh Tâm thần. Tại thời điểm thực hiện hành vi ngày 28/8/2023, Lưu Văn Q không bị bệnh Tâm thần. Lưu Văn Quảng đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại (tại thời điểm giám định), Lưu Văn Q không bị bệnh tâm thần. Lưu Văn Quảng đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, bị cáo Lưu Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đối với bị cáo Lưu Đại Đ không thừa nhận đã dùng thanh kim loại đánh anh Đỗ Văn T2 và anh Bùi Quang Phan . Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo Q, lời khai của bị hại và lời khai của người làm chứng đã xác định được: Trong quá trình xảy ra xô xát, Đ đã dùng thanh kim loại để đánh anh T2 và anh P.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Văn T2 yêu cầu Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q phải bồi thường thiệt hại tổng số là 62.400.000 đồng. Bị cáo Lưu Đại Đ chưa bồi thường cho anh T2 còn Lưu Văn Q đã nộp 10.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão để bồi thường.

Tại Bản Cáo trạng số 86/CT-VKS, ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão đã truy tố các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q về “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q; áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lưu Văn Q.

Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích; đã tuyên xử phạt bị cáo Lưu Đại Đ 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 33 (Ba mươi ba) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo Lưu Đại Đ về “Tội gây rối trật tự công cộng”, buộc bị cáo Lưu Đại Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 75 (Bảy mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo Lưu Đại Đức T3 từ ngày tạm giữ là ngày 10/7/2024.

Đã tuyên xử phạt bị cáo Lưu Văn Q 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo Lưu Văn Q tính từ ngày bắt thi hành án.

3

Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, tuyên quy định tiền lãi của số tiền chậm thi hành án, tuyên mức án phí hình sự sơ thẩm và dân sự bồi thường đối với bị cáo Lưu Đại Đ; tuyên miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự bồi thường đối với bị cáo Lưu Văn Q; tuyên quyền kháng cáo bản án đối với các bị cáo, bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q đều kháng cáo xin giảm hình phạt, bị cáo Lưu Văn Q còn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết định khung có tính chất côn đồ.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng có Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS ngày 03/01/2025 với nội dung: Kháng nghị phần án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Lưu Văn Q của Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị; các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo Lưu Văn Q có ý kiến: Mâu thuẫn giữa Lưu Đại Đ và Đỗ Văn T2 đã có từ trước và xảy ra nhiều lần; Đỗ Văn T2 đã nhiều lần chặn, đập xe ô tô của Lưu Đại Đ. Mặt khác, Lưu Văn Q coi Lưu Đại Đ như con nên đã chém bị hại Đỗ Văn T2 để bảo vệ Lưu Đại Đ. Do đó, hành vi của Lưu Văn Q không có tính chất côn đồ. Lưu Văn Q đã được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, p khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, ngoài ra bị cáo Lưu Văn Q còn bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Q theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo Lưu Văn Q hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Với nhiều tình tiết giảm nhẹ như viện dẫn thì người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm hình phạt cho bị cáo Q.

Ngoài ra, người bào chữa của bị cáo Đ cho rằng vai trò của Đ trong vụ án là vai trò thứ yếu. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đ đã bồi thường cho bị hại số tiền theo quyết định của bản án sơ thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Đ hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Với nhiều tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Đ như viện dẫn thì đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo Đ.

4

Tại phiên toà, các bị cáo Lưu Văn Q và Lưu Đại Đ nhất trí với ý kiến người bào chữa và không bổ sung thêm gì.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

* Xét kháng cáo của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và bị cáo Q kháng cáo đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng định khung “có tính chất côn đồ” thấy:

Toà án cấp sơ thẩm đã phân tích, đánh giá và xác định tội danh, tình tiết định khung hình phạt là có căn cứ; xem xét đúng tính chất nghiêm trọng do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra; đánh giá nhân thân, vai trò của mỗi bị cáo để phân hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, xác định vụ việc mang tính chất đồng phạm giản đơn; các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công mà chỉ cùng nhau thực hiện hành vi. Lưu Đại Đ là người khởi xướng, rủ rê còn Lưu Văn Q là người thực hành tích cực, vai trò của bị cáo Đ và bị cáo Q là ngang nhau.

Lưu Văn Q là người đã trực tiếp sử dụng dao gây thương tích cho bị hại T2 là 13%, còn Lưu Đại Đ cũng thừa nhận khi thấy sự việc xô xát ầm ĩ, Đ đã lấy trên xe ô tô 01 thanh kim loại tối màu, dài khoảng 40cm- 50cm lao vào vụt về phía bị hại T2 nhưng không trúng. Vì vậy, các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là “Dùng hung khí nguy hiểm”.

Về tình tiết tăng nặng định khung “Có tính chất côn đồ”: Xét thấy, vào ngày 28/8/2024, Đ và T2 hẹn nhau nói chuyện giải quyết mâu thuẫn, không liên quan đến Q. Q đi cùng Đ, khi đến nơi không nói lời nào đã sử dụng dao chém nhiều nhát liên tục gây thương tích cho Đỗ Văn T2 trong khi Đỗ Văn T2 đi tay không, không có khả năng chống trả. Hành động của bị cáo thể hiện sự hung hãn, coi thường sức khoẻ người khác nên việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc cả hai bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Do đó, cả hai bị cáo phải bị truy tố, xét xử về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với các tình tiết tăng nặng định khung quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 13 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Q chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Đ bị Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 33 tháng tù về “Tội gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HSST ngày 07/11/2024.

5

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q thành khẩn khai báo; đến nay cả hai bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 62.400.000 đồng cho người bị hại anh Đỗ Văn T2 nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại Bản án sơ thẩm số 97/HSST ngày 27/12/2024, Toà án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo Lưu Văn Q đã bồi thường cho bị hại 10 triệu đồng và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không chính xác, cần sửa lại thành điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Lưu Đại Đức được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là “Đầu thú”. Lưu Văn Q có bố đẻ là ông Lưu Văn L được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba theo Quyết định số 382KT/CTN ngày 18 tháng 10 năm 1999 nên cũng được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đến giai đoạn phúc thẩm, cả hai bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 62.400.000 đồng cho người bị hại anh Đỗ Văn T2, đồng thời cung cấp tài liệu cho Tòa án thể hiện tại các biên lai thu tiền ngày 30/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân của mỗi bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Hành vi của các bị cáo Đ và Q là nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương, bị quần chúng nhân dân lên án; hành động của các bị cáo thể hiện sự hung hãn, coi thường sức khoẻ người khác. Khung hình phạt áp dụng đối với các bị cáo theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là từ 02 đến 06 năm tù. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm tuyên mức hình phạt 42 tháng tù đối với mỗi bị cáo là phù hợp, không cao. Như đã phân tích ở trên, không đủ điều kiện cho các bị cáo được giảm hình phạt và không có căn cứ chấp nhận đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng định khung “có tính chất côn đồ” đối với bị cáo Q. Do vậy, kháng cáo của bị cáo Đ và bị cáo Q là không có căn cứ để chấp nhận.

* Xét kháng nghị số 01/QĐ-VKS ngày 03/01/2025 của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng:

6

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: Bị cáo Lưu Văn Q thuộc diện hộ cận nghèo từ ngày 01/01/2022 đến hết ngày 31/12/2022. Từ ngày 01/01/2023 đến nay bị cáo Lưu Văn Q không thuộc hộ nghèo hay cận nghèo mà chỉ được hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế 100% (được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí) trong thời gian 36 tháng kể từ khi thoát cận nghèo (kể từ năm 2023) theo Nghị quyết 04/2022/NQ-HĐND ngày 20/7/2022 của Hội đồng nhân dân thành phố H. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo Lưu Văn Q thuộc hộ cận nghèo và tuyên miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Lưu Văn Q là không có căn cứ, không đúng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, điều luật quy định: “1. Những trường hợp sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí: đ) cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; ..…”.

Như vậy, kháng nghị của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HSST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão về phần án phí đối với bị cáo Lưu Văn Q, buộc bị cáo Lưu Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo đúng quy định. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đ và bị cáo Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của quyết định kháng nghị và đơn kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Lưu Văn Q và Lưu Đại Đ có đơn kháng cáo, Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão kháng nghị. Kháng cáo của các bị cáo Lưu Văn Q và Lưu Đại Đ và kháng nghị của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và bị cáo Q kháng cáo đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng định khung “có tính chất côn đồ” thấy:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không kêu oan mà thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo là sai trái. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn xét xử sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 28/8/2023, anh Đỗ Văn T2 gọi điện thoại cho L1 Đại Đức hẹn gặp nói chuyện về việc Đ nhắn tin tán tỉnh bạn gái của anh T2. Thấy vậy, Đ gọi điện thoại cho Lưu Văn Q và Nguyễn Tùng L2 để cùng đi gặp anh T2. Lưu Đại Đ điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 15A-49282 đến đón Q. Khi đi Q cầm theo 01 con dao dài khoảng 60cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 40cm, cán bằng gỗ dài khoảng 20cm, vỏ bọc bên ngoài dao bằng gỗ. Đến nơi, anh Đỗ Văn T2 đi từ trong nhà ra ngoài sân thì Lưu Văn Q cầm dao xông vào chửi bới và chém nhiều nhát làm anh T2 bị thương ở cánh, cẳng tay trái và đùi trái; còn Lưu Đại Đ cũng khai nhận khi thấy sự việc xô xát ầm ĩ, Đ đã lấy trên xe ô tô 01 thanh kim loại tối màu, dài khoảng 40cm-50cm lao vào vụt về phía anh T2 nhưng không trúng. Thấy vậy, Lâm ôm và đẩy Q ra phía ngoài cổng nhà trọ, anh T2 bỏ chạy vào trong nhà. Lúc này anh Bùi Quang P là người ở cùng với anh T2 chạy từ trong nhà trọ ra thì bị Đ cầm thanh kim loại chạy đến vụt vào lưng. Anh P dùng tay đấm Đ 03 cái thì Q vào can ngăn, anh P đi vào trong nhà, Đ điều khiển xe ô tô chở Q về. Như vậy, Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q đã cùng gây ra thương tích cho anh Đỗ Văn T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Hành vi của Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q đã đồng phạm tội Cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

7

[2.2] Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành động tấn công, chém gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật. Con dao dài khoảng 60cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 40cm, cán bằng gỗ dài khoảng 20cm mà bị cáo Lưu Văn Q sử dụng để chém bị hại Đỗ Văn T2 và thanh kim loại dài khoảng 40cm- 50cm mà bị cáo Lưu Đại Đ dùng để vụt bị hại Đỗ Văn T2 là hung khí nguy hiểm nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự .

[2.3] Lưu Văn Q không có mâu thuẫn gì với anh Đỗ Văn T2; còn việc Lưu Đại Đ và Đỗ Văn T2 hẹn nhau nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn không liên quan đến Lưu Văn Q. Tuy nhiên, Lưu Văn Q lại đồng ý nhận lời Lưu Đại Đ, đi cùng Lưu Đại Đ để giải quyết mâu thuẫn giữa anh T2 và Lưu Đại Đ. Khi bị hại Đỗ Văn T2 đi từ trong nhà ra ngoài sân để gặp Đ nói chuyện thì Q đã cầm dao xông vào chửi bới và chém nhiều nhát liên tục làm bị hại Đỗ Văn T2 bị thương.

[2.4] Lưu Đại Đức chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt với anh Đỗ Văn T2 mà đã cầm 01 thanh kim loại xông đến vụt Đỗ Văn T2 nhưng không trúng. Như vậy, hành vi của hai bị cáo thể hiện sự hung hãn, coi thường pháp luật, xâm phạm thân thể, sức khỏe mạng của người khác nên việc cả hai bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Do đó, cả hai bị cáo phải bị truy tố, xét xử về “Tội cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với các tình tiết tăng nặng định khung quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên bố Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.

8

[2.5] Về nhân thân các bị cáo: Bị cáo Quảng nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Đ bị Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 33 tháng tù về “Tội gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HSST ngày 07/11/2024.

[2.6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[2.7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q thành khẩn khai báo; đến nay cả hai bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 62.400.000 đồng cho bị hại Đỗ Văn T2 theo các biên lai thu tiền ngày 28/11/2024 và ngày 30/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại Bản án sơ thẩm số 97/HSST ngày 27/12/2024, Toà án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo Lưu Văn Q đã bồi thường cho bị hại 10 triệu đồng và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không chính xác.

[2.8] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa của bị cáo Lưu Văn Q cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo Quảng hưởng điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự bởi lẽ bị cáo Q bị tâm thần. Do đó, người bào chữa cho rằng bị cáo Lưu Văn Q có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các điểm s, b và p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét: Trong quá trình giải quyết vụ án, Lưu Văn Q đã được giám định tâm thần và kết quả giám định cho thấy tại thời điểm thực hiện hành vi Quảng không bị tâm thần, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Mặt khác, Bản án hình sự sơ thẩm không nhận định bị cáo Lưu Văn Q là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng. Việc Bản án sơ thẩm nhận định Lưu Văn Q đã bồi thường cho bị hại 10 triệu đồng và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Q theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là lỗi sai sót do đánh máy. Việc sai sót này đã được Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Thông báo số 01b/2025/TB-TA ngày 06/01/2025 sửa chữa, bổ sung bản án, theo đó đã sửa điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự thành điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận ý kiến của người bào chữa của bị cáo Lưu Văn Q về việc Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo Quảng hưởng điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, không có cơ sở để áp dụng khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự như người bào chữa của bị cáo Lưu Văn Q đề nghị. Việc người bào chữa của bị cáo Lưu Văn Q trình bày Đỗ Văn T2 có hành vi đập phá xe của Lưu Đại Đức thì bản án sơ thẩm đã nhận định: Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q có thể chuyển tài liệu trên đến Cơ quan có thẩm quyền để giải quyết bằng một vụ án khác.

9

[2.9] Xét tại giai đoạn phúc thẩm, cả hai bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 62.400.000 đồng cho người bị hại Đỗ Văn T2 nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[2.10] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, vai trò, nhân thân của mỗi bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo Đ và Q là nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ; hành vi của các bị cáo thể hiện sự hung hãn, coi thường sức khoẻ người khác; gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương, bị quần chúng nhân dân lên án. Khung hình phạt theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là từ 02 năm đến 06 năm tù. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm quyết định mức hình phạt 42 tháng tù đối với từng bị cáo là phù hợp với pháp luật. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét các bị cáo không đủ điều kiện để được giảm hình phạt và không có căn cứ chấp nhận đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng định khung “có tính chất côn đồ” đối với bị cáo Q. Do vậy, kháng cáo của bị cáo Đ và bị cáo Q là không có căn cứ để chấp nhận.

[3] Xét Kháng nghị số 01/QĐ-VKS ngày 03/01/2025 của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, thấy:

[3.1] Tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Bị cáo Lưu Văn Q thuộc diện hộ cận nghèo từ ngày 01/01/2022 đến hết ngày 31/12/2022. Từ ngày 01/01/2023 đến nay bị cáo Lưu Văn Q không thuộc hộ cận nghèo. Như vậy, ngày 20-12-2024 là ngày Tòa án nhân dân huyện An Lão xét xử hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Văn Q thì bị cáo Q không còn thuộc hộ cận nghèo nữa. Việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo Lưu Văn Q thuộc hộ cận nghèo và tuyên miễn án phí hình sự sơ thẩm và miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Lưu Văn Q là không đúng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

10

[3.2] Do bị cáo Lưu Văn Q không thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo nên bị cáo Lưu Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và hình sự sơ thẩm mới là đúng quy định của pháp luật. Như vậy, Kháng nghị của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận Kháng nghị số 01/QĐ-VKS ngày 03/01/2025 của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão để sửa bản án sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm và hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lưu Văn Q.

[3.3] Xác định án phí đối với bị cáo Lưu Văn Q như sau: Tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án quy định: “g) Trường hợp bị cáo tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp”.

[3.4] Xét ngày 28/11/2024, bị cáo Lưu Văn Q đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão để bồi thường cho bị hại Đỗ Văn T2. Ngày 20/12/2024, Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm. Như vậy, bị cáo Lưu Văn Q đã tự nguyện nộp một phần tiền bồi thường thiệt hại trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm nên bị cáo Lưu Văn Q không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 10.000.000 đồng mà chỉ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền còn lại phải bồi thường theo quyết định của bản án sơ thẩm. Số tiền còn lại bị cáo Q phải bồi thường cho bị hại Đỗ Văn T2 là 21.200.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo Lưu Văn Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 21.200.000 đồng x 5% = 1.060.000đ (Một triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

* Về thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm:

Đây là vụ án mà các bị cáo gây thương tích làm bị hại Đỗ Văn T2 tổn thương cơ thể 13%. Vật chứng trong vụ án mà các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội là: 01 con dao dài khoảng 60cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 40cm, cán bằng gỗ dài khoảng 20cm, vỏ bọc bên ngoài dao bằng gỗ và 01 thanh kim loại tối màu, dài khoảng 40cm-50cm. Khi vụ án được xét xử thì việc xử lý vật chứng sẽ là nội dung không thể thiếu trong phần nhận định và quyết định của bản án hình sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không nhận định trong bản án sơ thẩm vật chứng là 01 con dao và 01 thanh kim loại nêu trên có thu hồi được hay là không thu hồi được. Nếu không thu hồi được vật chứng trong vụ án thì bản án cũng phải nhận định để giải quyết triệt để vật chứng của vụ án, tránh việc bỏ ngỏ không xử lý vật chứng của vụ án.

Vấn đề trên, Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

11

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q; giữ nguyên phần quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng về phần án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Lưu Văn Q.

  2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q.
    • - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích.
    • - Về hình phạt:
      • + Xử phạt bị cáo Lưu Đại Đ 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 33 (Ba mươi ba) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo Lưu Đại Đ về “Tội gây rối trật tự công cộng”, buộc bị cáo Lưu Đại Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 75 (Bảy mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo Lưu Đại Đức T3 từ ngày tạm giữ là ngày 10/7/2024.
      • + Xử phạt bị cáo Lưu Văn Q 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo Lưu Văn Q tính từ ngày bị cáo Lưu Văn Q đi thi hành án phạt tù.
    • Tiếp tục duy trì Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lưu Văn Q cho đến khi bị cáo Lưu Văn Q đi thi hành án phạt tù.
  3. 3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
    • - Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
    • - Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Lưu Đại Đ và Lưu Văn Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
    • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lưu Văn Q phải nộp 1.060.000đ (Một triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

12

4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1-TANDTC;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện An Lão;
  • - TAND huyện An Lão;
  • - PV06 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Hằng

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-PT ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 31/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về Tội cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự phúc thẩm xét xử các bị cáo về tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger