Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05/3/2025

Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

Bà Hà Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 09/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Phương Q, sinh năm: 1999. Địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Tổ C, khu phố C, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Diệp Văn T, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Phương Q trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2019, chị và anh Diệp Văn T tự tìm hiểu và yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 131 ngày 02/10/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại tổ D, ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến đầu năm 2024 giữa chị và anh T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, anh T không lo làm ăn, chăm lo cho gia đình, chỉ lo ăn chơi, chị đã khuyên nhủ nhiều lần, nhưng anh T vẫn chứng nào tật nấy, nên chị đã lên địa chỉ tổ C, khu phố C, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương sinh sống, đi làm và ly thân với anh T từ đó cho đến nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, chị muốn giải thoát cuộc hôn nhân này để mỗi người có cuộc sống tốt hơn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Diệp Văn T.

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh T có một người con chung tên Diệp Phú N, sinh ngày 29/01/2021. Từ khi chị và anh T ly thân cho đến nay, con chung đang sinh sống với anh T. Nên khi ly hôn chị đồng ý giao con tên Diệp Phú N, sinh ngày 29/01/2021 cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị sẽ cho con theo khả năng của mình.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Q xác nhận quá trình chung sống giữa chị và anh T không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn anh Diệp Văn T:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho người nhận là mẹ ruột của anh T là bà Trịnh Thị Đ, bà Đ cam kết sẽ chuyển thông tin đến anh T, nhưng anh T đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Phan Phương Q yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh Diệp Văn T. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Diệp Văn T có nơi cư trú tại tổ D, ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Phương Q có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Diệp Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị Q và anh T tự tìm hiểu và yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 131 ngày 02/10/2019. Như vậy, hôn nhân giữa chị Q với anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của chị Q về việc xin ly hôn với anh T thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị Q và anh T có phát sinh mâu thuẫn, mà theo chị Q cho rằng do chị và anh T bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, anh T không lo làm ăn, chăm lo cho gia đình, mà lo ăn chơi, chị đã khuyên nhủ nhiều lần, nhưng anh T chứng nào tật nấy, nên chị đã lên địa chỉ tổ C, khu phố C, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương sinh sống, làm việc và ly thân với anh T từ đó cho đến nay. Chị Q cũng xác định trong thời gian chị và anh T sống ly thân với nhau, thì giữa chị và anh T không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị Q bỏ qua mọi chuyện, cho anh T thêm cơ hội để đoàn tụ gia đình và nuôi dạy con cái, nhưng chị Q vẫn kiên quyết ly hôn với anh T. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T thông qua người nhận là mẹ ruột anh T là bà Trịnh Thị Đ nhiều lần, bà Đ cam kết sẽ chuyển thông tin đến anh T, nhưng anh T vẫn vắng mặt và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh T cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Q.

Từ đó thấy được mối quan hệ hôn nhân giữa chị Q với anh T đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị Q yêu cầu được ly hôn với anh T là có cơ sở.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị Q được ly hôn với anh T.

[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị Q và anh T có một người con chung tên Diệp Phú N, sinh ngày 29/01/2021. Từ khi chị và anh T ly thân cho đến nay, con chung đang sinh sống cùng với anh N. Nên khi ly hôn, chị Q đồng ý giao con tên Diệp Phú N, sinh ngày 29/01/2021 cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị Q không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị Q sẽ cho con theo khả năng của mình.

HĐXX xét thấy, từ khi chị Q và anh T sống ly thân với nhau cho đến nay, thì anh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N và hiện nay cháu N vẫn phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp cháu N phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cháu N cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

[3.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Q xác nhận giữa chị và anh T không tài sản chung và nợ chung, nên chị Q không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Phương Q được ly hôn với anh Diệp Văn T.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu tên Diệp Phú N, sinh ngày 29/01/2021 cho anh Diệp Văn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

- Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian anh Diệp Văn T nuôi con, chị Phan Phương Q được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Phương Q xác định giữa chị và anh Diệp Văn T không tài sản chung và nợ chung, nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Phan Phương Q phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Q đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009830 ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị Phan Phương Q không phải nộp thêm.

5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - THADS huyện Hòn Đất;
  • - UBND xã Bình Sơn,
  • Hòn Đất, Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Phương Q kiện Diệp Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger